Chương 1 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết: thống nhất về mặt khái niệm, những đặc thù của lao động nông thôn vùng lũ và các lý thuyết cơ sở để tiến hành thiết kế nghiên cứu. Kế đến, nghiên cứu thực nghiệm: tổng hợp những nghiên cứu trước đây về lao động và việc làm nông thôn ở Việt Nam. Sau đó trình bày kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của các nước và đưa ra mô hình nghiên cứu. Các khái niệm có liên quan Thực tế có nhiều khái niệm về lao động và việc làm nông thôn, trong đề tài này chỉ đề cập đến một số khái niệm đã và đang được sử dụng hiện nay để có sự thống nhất trong toàn bộ nghiên cứu.
Lực lượng lao động hay số người hoạt động kinh tế hiện tại là những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và thất nghiệp. (theo ban chỉ đạo điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp, 2006, tỉnh Đồng Tháp) Việc làm: khái niệm việc làm có thể hiểu ở hai trạng thái “tĩnh” và “động”. ở trạng thái “tĩnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật chất kỹ thuật khác, nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích cho cá nhân, cộng đồng. Theo cách hiểu này việc làm là khả năng làm tăng của cải xã hội, tăng lợi ích cho dân cư và cộng đồng, là khả năng sử dụng nguồn nhân lực và là các hoạt động lao động có ích.
Theo nghĩa động thì việc làm là hoạt động của dân cư nhằm tạo ra thu 10 nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng, trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Do đó, theo điều 13 của bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/06/1994 có ghi: “mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm, đều được thừa nhận là việc làm”. Trong điều kiện hiện nay, việc làm là lao động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó. Người có việc làm: được định nghĩa theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) là: “Người có việc làm là những người đang làm một việc gì đó được trả tiền công, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thoả mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình.
Từ khái niệm việc làm và người có việc làm cho thấy việc làm có thể là việc làm công ăn lương hay việc làm tự tạo của lao động đều như nhau. Với cách nhìn này sẽ khuyến khích giải phóng sức lao động tạo tâm lý thoải mái cho lao động giúp lao động tự tạo công việc nhằm làm tăng thu nhập cho gia đình và cho bản thân. Cơ hội việc làm: Theo cách hiểu về việc làm như hiện nay, đây là quá trình tạo cơ hội giải phóng sức lao động, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động. Cơ hội việc làm ở mỗi vùng sẽ khác nhau do nhiều nhân tố tạo nên như: điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế của vùng, chính sách tạo việc làm, thành thị hay nông thôn.
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc. Quá trình này có sự đóng góp của nhiều thành phần: nhà nước, các doanh nghiệp, các đoàn thể, và thành phần đóng vai trò quan trọng nhất chính là người lao động. Quá trình tạo việc làm diễn ra bắt đầu từ giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc sống lao động (lập thân, lập nghiệp), đến vấn đề tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động sáng tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Phân loại việc làm.
11 Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc. Tổ chức lao động quốc tế (1983) phân chia việc làm thành các loại: - Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: căn cứ vào số thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm. - Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: căn cứ vào số giờ làm việc trong một tuần. - Việc làm chính và việc làm phụ: căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó.
Căn cứ vào tính chất công việc: có việc làm nông nghiệp hay còn gọi là hoạt động nông nghiệp, việc làm phi nông nghiệp hay hoạt động phi nông nghiệp. Trong nghiên cứu này, việc làm nông nghiệp là các công việc liên quan trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi. Việc làm phi nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất khác ngoài việc làm nông nghiệp. Nhìn chung việc làm phi nông nghiệp liên quan đến các hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ tại các cơ sở kinh tế và hộ gia đình, ví dụ như: các hoạt động vá xe, bán hàng rong, làm hàng gia công đều được coi là việc làm phi nông nghiệp.
Làm công ăn lương hay việc làm tự tạo, trong nghiên cứu này, việc làm công ăn lương liên quan đến các hợp đồng lao động được thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động được nhận lương theo sản phẩm hoặc thời gian và làm việc dưới sự giám sát của người sử dụng lao động. Việc làm tự tạo là các việc làm tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hoá và dịch vụ ví dụ: tự làm bánh và bán, nhận may đồ cho khách tại nhà… đều được coi là việc làm tự tạo. Lao động địa phương và lao động di cư: lao động địa phương có thể được coi là lao động tại nhà hay không phải tại nhà nhưng vẫn ở địa phương.
Lao động di cư là lao động đi khỏi huyện làm tại các tỉnh khác hay ở nước khác với thời gian đi khỏi huyện từ 6 tháng trở lên. 12 Mối kiên kết giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.1 cho chúng ta thấy khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp có mối liên kết phụ thuộc lẫn nhau cả đầu vào và đầu ra. Người nông dân cần các sản phẩm của ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng hàng ngày và cho quá trình sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc thiết bị…. Đổi lại họ cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp.
Người sản xuất phi nông nghiệp mua lương thực thực phẩm từ nông dân. Vậy hai mối liên hệ thể hiện rõ nét đó là mối liên hệ về sản xuất và mối liên hệ về tiêu dùng, mặc dù trong thực tế mối liên hệ về sản xuất và tiêu dùng giữa hai khu vực rất phức tạp. Mối liên kết giữa khu vực nông nghiệp và khu vực phi nông nghiệp ( Nguồn: Lê Xuân Bá và công sự (2006)[1]) Một nhóm quan hệ khác cũng rất đáng quan tâm đó là các liên kết về vốn và lao động, luồng vốn có thể di chuyển giữa hai khu vực. Tiết kiệm của khu vực nông nghiệp có thể được đầu tư cho phát triển công nghiệp và ngược lại.
Năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên vừa có thể giải phóng lao động vừa có thể tăng tỷ lệ lương trong khu vực phi nông nghiệp do mức thu nhập trung bình của khu vực nông nghiệp được tăng lên, đòi hỏi mức lương của khu vực phi nông nghiệp cũng phải tăng cao mới thu hút được lao động. Ngược lại, năng suất lao động tăng lên trong khu vực phi nông nghiệp có thể hạn chế dòng lao động từ nông nghiệp chuyển sang do cầu về 13 lao động giảm. Mối quan hệ chia sẽ rủi ro được đề cập đến vì sản xuất nông nghiệp gặp nhiều rủi ro do thời tiết và người nông dân muốn đa dạng hóa hoạt động sản xuất của mình nhằm chia sẽ rủi ro. Một số nhà nghiên cứu chỉ ra rằng chính hoạt động phi nông nghiệp cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Vì vậy, chưa thể khẳng định do chia sẽ rủi ro mà người nông dân tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp. Trong điều kiện phát triển kinh tế như hiện của nước ta, những người nông dân biết tính toán làm ăn và có điều kiện về cơ hội cũng như về vốn thì đối với họ có thể lợi nhuận thu được từ hoạt động trong khu vực phi nông nghiệp lại là một sức hút mạnh mẽ cho việc dịch chuyển vốn và lao động giữa hai khu vực. Hay với tư tưởng tiến bộ hơn của những người nông dân thời nay, họ quyết định dành những khoản tiết kiệm được từ hoạt động nông nghiệp để đầu tư cho con cháu học hành hay học nghề mong tìm được việc làm trong khu vực phi nông nghiệp để thoát khỏi lao động mệt nhọc ngoài đồng. Nhìn chung, sự dịch chuyển của vốn và lao động giữa hai khu vực luôn có thể xảy ra với bất kỳ một lý do nào.
Đây là nền tảng cơ bản để nghiên cứu của chúng ta có thể thực hiện. Lý thuyết về các yếu tố “kéo” và đẩy” tham gia hoạt động phi nông nghiệp của nông dân. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới một mô hình về các yếu tố tác động tới quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Mô hình này cho rằng hộ gia đình quyết định tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp là do hai nhóm yếu tố khác nhau “kéo” và “đẩy” lao động vào hoạt động phi nông nghiệp.
Reardon (1997) đưa ra các nhân tố “đẩy” sau đây: (1) tăng trưởng dân số, (2) tăng sự khan hiếm của đất có thể sản xuất, (3) giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu, (4) giảm độ màu mỡ và năng suất của đất, (5) giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản, (6) giảm doanh thu đối với nông nghiệp, (7) tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, (8) các sự kiện và các cú sốc xảy ra, (9) thiếu khả năng tiếp cận đối với các thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, (10) thiếu vắng các thị trường tài chính nông thôn. Hơn nữa, ông cũng gợi ý 14 các nhân tố “kéo” sau đây: (1) doanh thu cao hơn của lao động phi nông nghiệp, (2) doanh thu cao hơn khi đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp, (3) rủi ro thấp hơn của khu vực phi nông nghiệp so với khu vực nông nghiệp, (4) tạo ra tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của gia đình và (5) nhiều cơ hội đầu tư. Tóm lại, nhân tố “kéo” đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực phi nông nghiệp đối với người nông dân.