Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Luận văn cũng đưa ra phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xem xét tác động của các nhân tố đến tỷ suất lãi cận biên của các NHTMCP tại Việt Nam. Đồng thời, luận văn đã trình bày về kết cấu của đề tài nghiên cứu theo các chương và đưa ra ý nghĩa thực tiễn của đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nội dung của chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết nền tảng có liên quan đến khái niệm ngân hàng thương mại, tỷ suất lãi cận biêncủa các NHTM.
Đồng thời, chương này sẽ giới thiệu một số công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả trong nước và ngoài nước liên quan đến các nhân tố tác động đến tỷ suất lãi cận biên.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại Hoạt động Ngân hàng xuất hiện từ rất lâu, từ trước 3500 trước công nguyên, với nghiệp vụ sơ khai ban đầu là nhận giữ tiền vàng và các tài sản có giá trị được thực hiện bởi các lãnh chúa, nhà thờ và các thợ vàng. Trải qua hàng ngàn năm, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng không ngừng phát triển và ngày càng đa dạng, tạo nên ngành công nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, đó là Ngân hàng thương mại. Tùy theo sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ và các đặc thù của nền kinh tế, xã hội, luật pháp tại mỗi quốc gia mà khái niệm NHTM được nhìn nhận ở nhiều góc độ. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, nhưng nhìn chung, tất cả các khái niệm đều cho thấy bản chất của NHTM là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh ngân hàng, trong đó hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế và sử dụng nguồn tiền huy động được để cho vay.
Bên cạnh đó, NHTM còn cung cấp các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, với hoạt động nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân để cho vay, cung ứng vốn cho các tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hoạt động đầu tư, NHTM được xem như một trung gian tài chính trong nền kinh tế, giúp luân chuyển nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng,…, qua đó, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 7 Do đó, có thể nói hoạt động kinh doanh của NHTM liên quan đến các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội như đảm bảo sự an toàn cho các khoản tiết kiệm của công chúng, kiểm soát mức cung ứng tín dụng và tiền tệ, phục vụ mục tiêu chung của kinh tế quốc gia. Theo đó, mọi biến động trong kinh tế và xã hội đều có tác động đến hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân hàng.Nguyên nhân là do các đặc trưng của NHTM như là những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính lớn, tài sản tài chính (chủ yếu là cho vay và chứng khoản) chiếm phần lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng và NHTM còn có các hoạt động ngoại bảng chứa nhiều rủi ro như cam kết bảo lãnh, cam kết tính dụng ,.
Vì vậy, theo Peter S.Rose (2004), NHTM là một tập đoàn kinh doanh hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận được. Do đó, chỉ tiêu khả năng sinh lời là chỉ tiêu được các NHTM quan tâm hơn cả vì có thể giúp ngân hàng thu hút vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Khả năng sinh lời của các ngân hàng có thể được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Trong đó, ba chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời được quan tâm nhất hiện nay đó là ROA (chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản), ROE (chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) và NIM (chỉ tiêu tỷ suất lãi cận biên).
Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn, tác giả sẽ quan tâm đến chỉ tiêu tỷ suất lãi cận biên và phân tích các nhân tố tác động đến tỷ suất lãi cận biên.2 Tổng quan về tỷ suất lãi cận biên Trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, mặc dù không có một khái niệm thống nhất về tỷ suất lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin), nhưng một khái niệm thường được sử dụng đó là tỷ suất lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) là chỉ số được xác định chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi phải trả, chia cho tổng tài sản có sinh lời của Ngân hàng. 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖−𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 NIM = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 Ngoài ra, tỷ suất lãi cận biên còn có thể tính bằng cách thay thế tổng tài sản có sinh lời bằng tổng tài sản của Ngân hàng. Trong trường hợp tài sản có sinh lời 8 chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì kết quả của cách tính này không tạo sự khác biệt đáng kể so với cách tính đã được đề cập như trên. Trong luận văn này, tác giả sẽ dùng cách tính thứ nhất để tính toán NIM của các Ngân hàng thương mại.
Trong đó: - Thu nhập lãi là các khoản thu nhập từ lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi từ kinh doanh và đầu tư chứng khoán, lãi từ nghiệp vụ bảo lãnh và các khoản thu khác từ hoạt động tín dụng. - Chi phí lãi là các khoản chi phí lãi mà ngân hàng phải trả từ hoạt động huy động tiền gửi, cho vay, phát hành giấy tờ có giá và từ hoạt động tín dụng khác. - Tài sản có sinh lời là các tài sản Có tạo ra thu nhập lãi cho ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Tài sản Có sinh lời bao gồm các khoản cho vay khách hàng, các khoản cho vay các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi và chứng khoán đầu tư.
Nhìn vào công thức trên, ta có thể thấy, do hầu hết các ngân hàng đều có thu nhập lãi chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng thu nhập của Ngân hàng, vì vậy, nhiều tác giả cho rằng tỷ suất lãi cận biên truyền đạt thông tin quan trọng cho hiệu quả của hệ thống ngân hàng (Demirgüç-Kunt & Huizinga, 1999), vì khi NIM của Ngân hàng càng lớn cho thấy thành công của Ngân hàng trong việc quản lý các tài sản sinh lời, và ngược lại, NIM càng thấp cho thấy lợi nhuận của Ngân hàng càng bị co hẹp lại. Tuy nhiên, nếu xét về mặt lợi ích xã hội, NIM của các ngân hàng thương mại quá cao sẽ cản trở sự tăng trưởng của tiết kiệm và đầu tư. Bên cạnh đó, chi phí trung gian lớn khiến một số người có nhu cầu vốn không thể tiếp cận được nguồn vốn. Hơn nữa, tác động của NIM cao sẽ nghiêm trọng hơn đối với các nước đang phát triển, nơi mà thị trường vốn còn chưa phát triển, hầu hết các cá nhân và doanh nghiệp đều phụ thuộc vào ngân hàng để đáp ứng nhu cầu cần vốn của mình (Martinez Peria and Mody, 2004).
Do đó, giữa những người làm chính sách với mục tiêu là tối đa hóa lợi ích xã hội và những người quản trị ngân hàng có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có sự tồn tại về xung đột lợi ích. Vì vậy, các nhà chính sách và quản trị ngân hàng cần có chính sách về tỷ suất lãi cận biên phù hợp để đảm bảo 9 hiệu quả hoạt động của Ngân hàng và vẫn đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.3 Tổng quan về các nhân tố tác động đến tỷ suất lãi cận biên 2.1 Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố tác động đến tỷ suất lãi cận biên 2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trước nghiên cứu của Ho và Saunders (1981),có hai nhóm mô hình giải thích về hoạt động của ngân hàng. Nhóm thứ nhất dựa trên giả thuyết về tự bảo hiểm và nhóm thứ hai dựa trên giả thuyết về độ thỏa dụng mong đợi. Nhóm mô hình dựa trên giả thuyết tự bảo hiểm cho rằng ngân hàng luôn tìm cách làm cho thời hạn của tài sản có và tài sản nợ cân xứng với nhau, nhằm tránh rủi ro tái đầu tư hoặc rủi ro tái tài trợ nảy sinh từ sự bất cân ứng trong thời hạn của các khoản cho vay và các khoản tiền gửi.
Vì thế, nhóm mô hình này cho rằng biến động lãi suất là rủi ro chủ yếu của hoạt động ngân hàng và là nhân tố quyết định đến tỷ suất lãi cận biên.Tuy nhiên, mô hình này lại không gắn kết hoạt động của ngân hàng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Nhóm mô hình dựa trên giả thuyết về độ thỏa dụng mong đợi thì cho rằng các ngân hàng hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận mong đợi hoặc độ thỏa dụng mong đợi từ lợi nhuận. Với giả định đó, Pyle (1971) xác định các điều kiện cần và đủ đối với sự tồn tại của một trung gian tài chính, đó chính là nếu lãi suất huy động và lãi suất cho vay độc lập với nhau thì trung gian tài chính sẽ tồn tại khi có sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, trong đó, lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động. Tuy nhiên, nhóm mô hình này không phân tích các nhân tố tác động đến sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cũng như không phân tích sự chênh lệch đó sẽ thay đổi như thế nào khi lãi suất thị trường và các nhân tố khác thay đổi.
Dựa trên nền tảng đó, Ho và Saunders (1981) đã mở rộng và gắn kết hai nhóm mô hình nghiên cứu để xây dựng nên mô hình lý thuyết nền móng đầu tiên về các nhân tố tác động đến tỷ suất lãi cận biên, trong đó, các ngân hàng được xem là các đại lý e ngại rủi ro trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng, do đó, sự 10 chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động được xem như phần bù rủi ro dành cho ngân hàng để bù đắp rủi ro khi chấp nhận sự không chắc chắn trong việc cấp tín dụng cũng như các yêu cầu bất thường của người gửi tiền.