mở đầu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu, cũng như tính thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trong chương nàytrình bày tổng quan các khái niệm về tiết kiệm, các lý thuyết về tiết kiệm, các hình thức tiết kiệm. Đồng thời trình bày các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, đồng thời so sánh những khác biệt trong nghiên cứu này với các nghiên cứu trước đó. Chương 3 – Nêu ra bối cảnh nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu.
Chương này giới thiệu về các mẫu điều tra khảo sát, đồng thời cũng trình bày về phương pháp nghiên cứumà đề tài áp dụng, mô tả phương thức thu thập dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu và những kỹ thuật để phân tích dữ liệu. Chương 4 – Phân tích kết quả nghiên cứu: Chương này sẽ mô tả phân tích thống kê, kiểm định hệ số tương quan của các biến độc lập, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của các biến, Kiểm định sự phù hợp của mô hình, và cuối cùng phân tích kết quả của mô hình hồi qui, để xem xét các nhân tố nào có ảnh hướng đến tiết kiệm. Chương 5 – Kết luận và kiến nghị, chương này trình bày tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu đạt được, góp phần gợi ý chính sách có hiệu quả và nêu lên những hạn chế mà đề tài gặp phải. Trang 4 CHƢƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TIẾT KIỆM Chương này trình bày các khái niệm về tiết kiệm và các lý thuyết liên quan đến tiết kiệm, hình thức tiết kiệm.
Đồng thời nêu ra một số nghiên cứu trước có liên quan đến tiết kiệm và so sánh sự khác biệt của nghiên cứu này với các nghiên cứu trước đó, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu cho các nhân tố ảnh hưởng đến tiết kiệm của công nhân tại KCX Tân Thuận.1 Khái niệm tiết kiệm Nguyễn Văn Ngọc (2010) Tiết kiệm cá nhân là hoạt động giữ lại thu nhập của khu vực hộ gia đình, bằng thu nhập sử dụng (Y-T) trừ tiêu dùng ( C ). Theo VHLSS (2010), tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập và tiêu dùng. Có hai loại tiết kiệm gồm tiết kiệm tài chính và tiết kiệm vật chất. Tiết kiệm tài chính bao gồm các khoản tiết kiệm trong ngân hàng nhà nước, ngân hàng cổ phần, ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, trái phiếu chính phủ, hệ thống tín dụng chính thức.
Tiết kiệm vật chất là các khoản tiết kiệm bằng tiền mặt, vàng, đô la, đất đai, máy móc thiết bị, nhà ở. Theo Keynes (1936),tiết kiệm là lượng thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng. Nghĩa là S = Yd – C hay C+S = Yd ( trong đó S là tiết kiệm, Yd là thu nhập khả dụng và C là tiêu dùng). Cũng theo Jansen (1990), Jansen có nêu lên khái niệm về phát triển tài chính, theo đó phát triển tài chínhđược hiểu là quá trình nâng cao vai trò của sự hình thành vốn gián tiếp.
Phát triển tài chính hiểu theo cách khác làcó hàm ý rằng sự gia tăng tách biệt giữa hành vi tiết kiệm và đầu tư, hay bộ phận lao động trong gia tăng khác nhau với nền kinh tế giữa tiết kiệm và đầu tư. Tài chính gián tiếp là các cá nhân phân bổ tiết kiệm của mình vào các tổ chức tài chính sử dụng các quỹ tiết kiệm để cho vay đối với các nhà đầu tư. Vì vậy, phát triển tài chính có nghĩa là có sự gia tăng trong việc sử dụng các sản phẩm tài chính trong đơn vị kinh tế. Tiết kiệm, hiểu theo nghĩa phổ thông, là hành vi giảm thiểu các lãng phí.Tiết kiệm trong kinh tế học, là phần thu nhập có thể sử dụng không được chi vào tiêu dùng.
Khoa học kinh tế giả định rằng con người có hành vi tối đa hóa lợi ích. Vì thế, khoản Trang 5 thu nhập không được tiêu dùng sẽ được đầu tư để sinh lời. Chính vì thế, trong một nền kinh tế khép kín, tiết kiệm bằng đầu tư.Trong thuật ngữ tài chính cá nhân, tiết kiệm đề cập đến việc dự trữ tiền cho tương lai - loại tiền được gửi trong ngân hàng. Tiết kiệm khác với sự đầu tư nơi mà có những nhân tố rủi ro (Wikipedia, 2015).
Như vậy, từ những khái niệm khác nhau có thể rút ra khái niệm “Tiết kiệm là số tiền tích luỹ đượctừ phần thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi tiêu”.2 Một số lý thuyết liên quan đến tiết kiệm Các lý thuyết về tiết kiệm có thể được phân làm hai trường phái khác nhau bao gồm: Lý thuyết cổ điển và lý thuyết Keynes. Đồng thời nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết nghiên cứu thực nghiệm về việc tiết kiệm của hộ gia đình cảu các nhà kinh tế hiện đại khác chủ yếu trên hai giả thuyết: Giả thuyết thu nhập thường xuyên của Friedman (1957), và giả thuyết thu nhập vòng đời của Modigliani và Brumberg (1954). Sự khác biệt hai trường phái này là: Đối với trường phái cổ điển, tiết kiệm được xác định chủ yếu do lãi suất. Đối với trường phái của Keynes, Friedman và Modigliani các nhà kinh tế hiện đại cho rằng thu nhập là yếu tố quyết định chính đến tiết kiệm (Wai, 1972).1 Lý thuyết tiết kiệm theo trường phái cổ điển Theo quan điểm về tiết kiệm của trường phái cổ điểncho rằng lãi suất được xem như là một món quà cho tiết kiệm,để xác định được tiết kiệm thì lãi suất là yếu tố quan trọng nhất.
Sở dĩ mà sự gia tăng lãi suất được ví như phần thưởng lớn cho tiết kiệm, bởi lãi suất tăng dẫn đến một khối lượng tiết kiệm lớn hơn. Đồng thời sự gia tăng của tiết kiệm cũng là sự gia tăng của đầu tư (Wai, 1972). Tuy nhiên quan điểm này của trường phái cổ điển lại bị tấn công bị Keynes tấn công với một quan điểm khác rằng lượng tiết kiệm phụ thuộc vào lượng đầu tư, theo đó mà đầu tư bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Vì lãi suất giảm thì đầu tư tăng và ngược lại.
Lý thuyết trong trường phái cổ điển được áp dụng trong nghiên cứu này với hình thức tiết kiệm là gửi ngân hàng, khi lãi suất tăng thìcông nhân sẽ gửi vào ngân hàng nhiều hơn vì tin rằng số tiền tiết kiệm nhiều hơn.2 Lý thuyết thu nhập tuyệt đối của Keynes (1936) Giả thuyết thu nhập tuyệt đối của Keynes cho rằng mô hình tiết kiệm đơn giản là một hàm số như sau: S = a + b. Theo Keynes khi thu nhập khả dụng tăng lên thì tiêu dùng và tiết kiệm đều tăng, nhưng tiêu dùng có khuynh hướng tăng chậm, còn tiết kiệm thì tăng nhanh hơn. Đặt ra giả sử về một người ban đầu họ có thu nhập 6 triệu nếu như họ quyết định tiêu dùng số tiền là 4 triệu thì còn lại 2 triệu là tiết kiệm, nhưng về sau khi thu nhập của người này có thể tăng lên đến 12 triệu, lúc này khuynh hướng tiêu dùng của người này lại không tăng lên gấp đôi mà sẽ tăng ít hơn và tiết kiệm tăng nhiều hơn gấp đôi 2 triệu ban đầu mà có thể tăng đến 6 triệu hoặc hơn. Keynes gọi đây là qui luật tâm lý cơ bản, phản ánh tâm lý chung của đại đa số người dân.
Khi tiêu dùng tăng chậm hơn thu nhập thì tỷ trọng tiêu dùng trong thu nhập (C/Yd) sẽ giảm xuống khi thu nhập tăng lên, hay khuynh hướng tiêu dùng bình quân giảm dần. Keynes dựa vào hàm (*) để xây dựng hàm tiêu dùng và hàm tiết kiệm: Hàm tiêu dùng phản ánh sự phụ thuộc của lượng tiêu dùng dự kiến vào lượng thu nhập khả dụng mà hộ gia đình có được. Hoặc viết dưới dạng bằng số như sau C=100+0,75Yd. Hàm tiết kiệm phản ánh sự phụ thuộc của lượng tiết kiệm dự kiến vào lượng thu nhập khả dụng mà hộ gia đình có được.
Hoặc viết hàm này dưới dạng bằng số như sau S=-100+0,25Yd Theo Dương Tấn Diệp (2007) dựa vào hàm tiêu dùng và hàm tiết kiệm ta có bảng số liệu và đồ thị để mô tả khuynh hướng thay đổi của tiêu dùng và tiết kiệm theo thu nhập khả dụng như sau: Trang 7 200 400 600 800 1.000 C - 100 - 50 50 100 150 200 S 0 Vẽ đồ thị như sau: Hình 2.1 Hàm tiêu dùng và hàm tiết kiệm Như vậy:Khi thu nhập khả dụng bằng 0 thì vẫn phải tiêu dùng mức tối thiểu, lúc này tiết kiệm sẽ bị âm. Khi thu nhập khả dụng bằng tiêu dùng thì tiết kiệm bằng 0 đó là điểm trung hòa như hình 2. Theo Gillis et al., 1990 cho rằngcách giải thích của Keynes chỉ có tác động trong thời gian ngắn chứ không phải thời gian dài bởi vì khi xét ở một số nước thì:Trong khoảng thời gian dài thì khuynh hướng tiêu dùng trung bình ở một số nước giảm dần khi thu nhập khả dụng tăng lên, ở một số nước khác thì không đổi, ở các Trang 8 nước còn lại có sự thay đổi bất thường. Trong khoảng thời gian ngắn thì hộ gia đình thường giảm bớt tỷ lệ tiêu dùng khi thu nhập khả dụng tăng lên tức khuynh hướng tiêu dùng trung bình có xu hướng giảm dần.
Lý thuyết của Keynes được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết Keynes với hàm Tiết kiệm (S) = thu nhập (Y) – chi tiêu (C), có bổ sung thêm các biến từ nghiên cứu trước có liên quan để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến tiết kiệm của công nhân tại KCX Tân Thuận. Tuy nhiên hiện tượng “nghịch lý của tiết kiệm” của Keynes trái ngược ngược với trường phái cổ điển, Keynes cho rằng lãi suất có tác động tiêu cực đến tiết kiệm, vì lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư buộc doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, giảm lương và sa thải lao động do đó tiết kiệm sẽ giảm.3 Giả thuyết thu nhập tương đốicuả J. Duesenberry (1948) Theo thuyết của Duesenberry thì tiết kiệm của dân cư không chỉ phụ thuộc vào thu nhập tuyệt đối của họ tại thời điểm đó mà còn phụ thuộc vào thói quen chi tiêu đã hình thành trong quá khứ.
Ban đầu Duesenberry xây dựng thuyết thu nhập tương đối nhằm giải thích cho nghiên cứu tại Mỹ về sự vận động của tiết kiệm và tiêu dùng, tuy nhiên sau đó thuyết thu nhập tương đối của ông được áp dụng tại nhiều nước đang phát triển vì khả năng giải thích của nó Có thể thấy thuyết thu nhập tương đốicuả J. Duesenberry ra đời để sửa chữa những điểm chưa hoàn thiện trong cách nhìn của Keynes, theo đó J.