CHƯƠNG 1 Từ cái nhìn tổng quan về thực trạng nền kinh tế Việt Nam và các công trình nghiên cứu khoa học của các nghiên cứu sinh Việt Nam trước đây, tác giả nhận thấy rằng việc tìm ra nguyên nhân làm ảnh hưởng đến HQHĐ ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay là rất cấp thiết. Tác giả quyết định chọn con đường thực nghiệm, bằng cách sử dụng phần mềm thống kê tiên tiến để phân tích định lượng, kết quả mô hình sẽ được so sánh với các mô hình trước đây, nhằm phát hiện các nhân tố nào tác động đến HQHĐ của NHTM và loại bỏ các nhân tố nào không có sức ảnh hưởng đến ngành ngân hàng Việt Nam. LV Quản lý kinh tế 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HQHĐ CỦA NHTM VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 HQHĐ của NHTM 2.1 Khái niệm về HQHĐ Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định.
Theo quan điểm truyền thống hiệu quả kinh tế của một quá trình được định nghĩa là biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có vai trò, chức năng đặc biệt LV Quản lý kinh tế trong nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường, đánh giá trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là HQHĐ.
HQHĐ của ngân hàng có thể được xem là kết quả về lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì HQHĐ có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: Thứ nhất là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lợi hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác, thứ hai là xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. HQHĐ của ngân hàng đã là chủ đề lớn được thảo luận trong các nghiên cứu trước đó. Khủng hoảng tài chính gần đây đã chứng minh tầm quan trọng của lĩnh vực ngân hàng đối với nền kinh tế.
Athanasoglou và cộng sự (2005) chỉ ra sự ổn định của hệ thống tài chính là phụ thuộc vào lợi nhuận lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là trong các thời kỳ khó khăn, suy thoái. Vì vậy, có nhiều bên liên quan (viện nghiên cứu, các nhà đầu tư…) quan tâm đến HQHĐ của các ngân hàng. 7 Phân tích HQHĐ của NHTM chính là phân tích năng lực tài chính, năng lực điều hành, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh và phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, xác định nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý kịp thời, đúng lúc nhằm đảm bảo hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của các NHTM để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Ngoài ra, việc phân tích HQHĐ là căn cứ xác thực, quan trọng cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển kinh doanh của ngân hàng.
Từ đó, nhà quản trị sẽ hoạch định và đưa ra các quyết định chiến lược kinh doanh có hiệu quả hơn.2 Phương pháp đo lường HQHĐ Các nhà nghiên cứu thường thông qua các hệ số chỉ tiêu tài chính để phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQHĐ của các NHTM. Đây là phương pháp phân tích đơn giản, các số liệu tính toán sẵn có dựa trên các báo cáo tài chính của các NHTM đã được kiểm toán và công bố công khai. Thông qua các chỉ số tài chính, nhà quản trị có cái nhìn trực quan về HQHĐ của ngân hàng, có thể phân tích và so sánh tình LV Quản lý kinh tế hình tài chính giữa các NHTM. Yêu cầu đặt ra là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp, phản ánh đúng bản chất về năng lực tài chính của các NHTM.
Hầu hết các học giả sử dụng cùng các chỉ số để đo lường HQHĐ của các ngân hàng đó là TSSL trên tài sản (ROA) và TSSL trên VCSH (ROE). ROA là một thước đo bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận, ROE là lợi nhuận của các cổ đông có được trên số VCSH được đầu tư vào ngân hàng. ROA và ROE được ưa thích bởi hầu hết các cơ quan quản lý, là hai chỉ tiêu tài chính được dùng trong đánh giá TSSL phổ biến nhất của hoạt động ngân hàng (Judijanto và Khmaladze, 2003). Trong luận văn này, tác giả cũng lựa chọn nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi (ROA và ROE) làm tiền đề cho việc đánh giá HQHĐ của các NHTM.
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA – Return On Assets) phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ở doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản. Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng 8 lớn và ngược lại. Ngoài ra, ROA còn là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính nhằm ra quyết định huy động vốn.
ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return On Equity) là chỉ tiêu rất được các nhà đầu tư và cổ đông quan tâm. Khi xem xét ROE, các nhà quản trị biết được một đơn vị vốn sở hữu đầu tư vào kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi nhuận. ROE vừa liên quan đến chi phí lãi vay, vừa liên quan đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó nó được xem là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng VCSH dưới tác động của đòn bẩy tài chính. Trị số của ROE càng cao thể hiện việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả và ngược lại.
ROE = Lợi nhuận ròng / Vốn chủ sở hữu 2.1 Lý thuyết khả năng sinh lợi của NHTM Theo các nghiên cứu về HQHĐ của các nghiên cứu trước trong nước và trên LV Quản lý kinh tế thế giới thì dựa trên những lý thuyết cơ bản sau đây: lý thuyết quyền lực thị trường (MP – Market Power); lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure); lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng. Lý thuyết quyền lực thị trường (MP) có hai hướng tiếp cận chính đó là lý thuyết cấu trúc (Structure) – hành vi (Conduct) – hiệu quả (Performance) (SCP) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (MRP). Lý thuyết SCP cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định đến hành vi của doanh nghiệp và hành vi này quyết định đến hiệu quả thị trường bao gồm khả năng sinh lợi (ROA, ROE.), tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng trưởng của doanh nghiệp. Theo Bain (1951), lý thuyết này còn cho rằng nhiều ngành nghề có sự tập trung cao sẽ góp phần tạo ra những hành vi của doanh nghiệp, nhà quản lý dẫn đến kết quả kinh doanh nghèo nàn, làm giảm sản lượng (doanh thu) và hình thành giá cả độc quyền.
Theo SCP thì thị trường ngân hàng càng tập trung thì sẽ gia tăng lãi suất cho vay ngày càng cao và lãi suất huy động sẽ giảm đi vì mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ giảm đi. Trong khi đó lý thuyết MRP cho rằng các doanh nghiệp có thị 9 phần lớn và có các sản phẩm, dịch vụ riêng biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và gia tăng lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995). Có thể dễ dàng thấy rằng một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm cao có thể tăng gia sản phẩm, dịch vụ và kiếm được lợi nhuận cao hơn. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (SE) Khác với lý thuyết quyền lực thị trường, lý thuyết cấu trúc hiệu quả (SE) nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc thị trường và HQHĐ của doanh nghiệp hoặc có thể hiểu HQHĐ của doanh nghiệp có thể tạo nên cấu trúc của thị trường.
Theo Olweny và Shipho (2011), có thể thấy các NHTM hoạt động hiệu quả hơn thì có lợi nhuận cao hơn. Lý thuyết này thường được đề xuất theo hai hướng tiếp cận khác nhau và phụ thuộc vào loại hiệu quả mà chúng xem xét. Đối với hướng tiếp cận hiệu quả X (X-Efficiency) thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn thì có lợi nhuận cao hơn, nguyên nhân là do họ có khả năng giảm thiểu, tối ưu chi phí sản xuất kinh doanh ở bất kỳ điều kiện nào (Al-Muharrami và Matthews, LV Quản lý kinh tế 2009). Ngoài ra, đối với hướng tiếp cận hiệu quả quy mô (Scale- efficience) thì mối quan hệ giữa HQHĐ và quy mô được giải thích dựa trên nguyên lý tính kinh tế theo quy mô.
Cũng theo Olweny và Shipho (2011) khẳng định rằng các NHTM lớn hơn thì có chi phí sản xuất kinh doanh thấp hơn ngân hàng nhỏ, do đó có lợi nhuận cao hơn nhờ vào tính kinh tế theo quy mô. Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn so với hai lý thuyết nêu trên đối với việc nghiên cứu lợi nhuận và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng (Nzongang và Atemkengn, 2006). Nội dung chủ yếu của lý thuyết này là nhà đầu tư có thể tối thiểu hóa rủi ro của thị trường đối với một mức lợi nhuận kỳ vọng nào đó thông qua việc đa dạng hóa danh mục mà họ quyết định đầu tư. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và thành phần kỳ vọng của danh mục đầu tư của NHTM chính là quyết định của ban quản trị ngân hàng.
Đa dạng hóa là tốt, nhưng đa dạng hóa một cách thái quá lại rất nguy hiểm. Mục đích chính của đa dạng danh mục đầu tư là giảm thiểu tác động của giá cả lên xuống do biến động thông thường hay suy thoái của thị trường trong dài hạn. 10 Bất cứ hành động thái quá nào cũng đều trở thành phản tác dụng.