Chương 1: Tổng quan nghiên cứu 123doc 5 Trình bày tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn. - Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu về vấn đề tăng trưởng tín dụng Chương này đưa ra một số khái niệm, cơ sở lý thuyết trong việc nghiên cứu về các ngân hàng thương mại, tín dụng ngân hàng. Đồng thời, tác giả cũng xác định các nhân tố nội tại ngân hàng và các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế có tác động tới tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. Trên cơ sở các nhân tố đó, tác giả đưa ra những bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trước về vấn đề tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại.
- Chương 3: Phương pháp định lượng Từ việc xác định các nhân tố nội tại ngân hàng và vĩ mô của nền kinh tế có tác động đến tăng trưởng tín dụng trong chương 2, luận văn sẽ đưa ra quy trình thực hiện nghiên cứu định lượng trong bài nghiên cứu. Cụ thể, tác giả sẽ xác định các giả thuyết nghiên cứu; cách thức thu thập dữ liệu (bao gồm nguồn dữ liệu sử dụng); xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng (với các biến số trong mô hình); cách xác định, tính toán/ đo lường các biến số nghiên cứu định lượng; tổng quan các phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng trong luận văn. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đối với trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra các kết luận về việc chấp nhận/ bác bỏ những giả thuyết đã đặt ra trước đó, đồng thời tác giả cũng đưa ra các nhận định về tác động của các biến độc lập đối với tăng trưởng tín dụng trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
123doc 6 - Chương 5: Kết luận, kiến nghị chính sách của đề tài nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo Chương này sẽ tóm tắt về việc thực hiện nghiên cứu trong luận văn, kết luận tổng quát về các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị, đề xuất nhằm đảm bảo tăng trưởng tín dụng ổn định, an toàn đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Ngoài ra, chương này cũng sẽ chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu của luận văn và đưa ra các hướng nghiên cứu mở rộng của luận văn trong các nghiên cứu tiếp theo. 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG Chương này sẽ trình bày tổng quan về phần lý thuyết, các nhân tố có ảnh hưởng đến vấn đề tăng trưởng khoản vay tín dụng trong ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, chương này sẽ sơ lược qua một số nghiên cứu trước đây để làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố có tác động. Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có được là cơ sở để tác giả lựa chọn và xây dựng các nhân tố tác động mà tác giả sẽ sử dụng trong nghiên cứu của mình 2. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại 2.1 Vai trò của hệ thống NHTM 2.1 Thực thi chính sách tiền tệ Trong nền kinh tế, Ngân hàng trung ương là cơ quan có nhiệm vụ hoạch định các chính sách tiền tệ với các công cụ chính như các quy định về lãi suất, quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh mức lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, các hoạt động điều tiết trên thị trường mở,. Trong khi đó, NHTM sẽ là các chủ thể chịu tác động trực tiếp của các công cụ điều chỉnh trên; đồng thời các NHTM sẽ có vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
Ngược lại, thông qua NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, các thông tin của nền kinh tế sẽ được phản hồi về cho ngân hàng trung ương để từ đó, ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh những chính sách tiện tệ một cách thích hợp đối với nền kinh tế 2.2 Cung cấp vốn cho nền kinh tế Vốn được tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong một nền kinh tế. Do đó, nếu muốn có nhiều vốn thì phải tăng thu nhập quốc dân và các chi phí từ việc tiêu dùng phải được cân đối hợp lý. Mặt khác, nền kinh tế ngày một phát triển sẽ càng tạo ra nhiều nguồn vốn. Điều đó sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng.
Tóm lại, ngân 123doc 8 hàng thương mại là các chủ thể phần lớn đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.3 Cầu nối giữa các doanh nghiệp và thị trường Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp luôn chịu tác động đáng kể từ các quy luật kinh tế mang tính chất khách quan như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất dựa trên sự đáp ứng nhu cầu cho thị trường thông qua các hợp đồng tín dụng, cho vay. Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo doanh thu và lợi nhuận thông qua nhu cầu của thị trường, từ đó tạo cho doanh nghiêp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.4 Công cụ đề nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, một trong các công cụ để nhà nước điều tiết các hoạt động vĩ mô nền kinh tế chính là thông qua các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại. Với nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán trong hệ thống các ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mại sẽ góp phần mở rộng lượng cung tiền trong lưu thông của nền kinh tế.
Với việc cung ứng tín dụng cho các chủ thể của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại sẽ điều tiết các dòng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, phân phối tiền tệ một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô kinh tế: “Nhà nước dẫn dắt ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.5 Cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, việc mở rộng các mối quan hệ hàng hóa – tiền tệ sẽ làm gia tăng nhu cầu trao đổi kinh tế, giao thương giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng. Do vậy, nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải 123doc 9 mở cửa, hội nhập với nền tài chính quốc tế. Khi đó, các NHTM cùng các hoạt động kinh doanh của mình sẽ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hội nhập kinh tế. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, các nghiệp vụ thanh toán, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng.
Thông qua các hợp đồng thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, quan hệ tín dụng với các ngân hàng nước ngoài, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ có vai trò điều tiết nền tài chính trong nước theo hướng phù hợp với xu hướng vận động chung của nền tài chính quốc tế. Tóm lại, vai trò chính của hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm: - Thứ nhất, ngân hàng thương mại là công cụ quan trọng thúc đẩy, phát triền của sản xuất lưu thông hàng hóa. Thông qua chức năng huy động vốn, cùng với vai trò làm trung gian thanh toán. Ngân hàng thương mại giống như một “chất bôi trơn” luân chuyển làm cho bộ máy kinh tế hoạt động hiệu quả.
Thứ hai, là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương, đề điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế vỹ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Hầu hết, công cụ thực hiện chính sách tiền tệ hoạt động có hiệu quả của các ngân hàng thương mại cũng như việc chấp hành qui định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư 2. Tín dụng ngân hàng 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Định nghĩa tín dụng được xuất phát từ tiếng Latinh, có nghĩa là credo, tức là sự tin tưởng, sự tín nhiệm lẫn nhau.
Trên các góc độ khác nhau, khái niệm về tín dụng được hiểu như sau: - Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả. - Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trên nguyên tắc có hoàn trả. 123doc 10 - Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian; đồng thời sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu ở một thời điểm nhất định trong tương lai. Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Nhà kinh tế học người Pháp Louis Baundin định nghĩa tín dụng là “Một sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai” (Trích nguồn voer. Ở đây, tài hóa được hiểu là tiền tệ và tín dụng sẽ được xem là việc trao đổi tiền tệ ngày hôm nay để nhận được các khoản tiền trong tương lai. Tương lai ở đây là yếu tố thời gian hữu hạn, nói cách khác là sự trao đổi sẽ kết thúc vào một thời điểm nhất định trong tương lai, Từ đó, có thể thấy rằng nhà kinh tế học này đang ngầm nhấn mạnh đến sự tín nhiệm và quá trình sử dụng sự tín nhiệm của nhau trong bối cảnh xuất hiện của yếu tố rủi ro. Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2011), nghiệp vụ cho vay của các ngân hàng thương mại là nghiệp vụ cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thương mại sẽ chuyển giao cho khách hàng quyền sử dụng một số vốn bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định.