chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu trên thế giới. Các nghiên cứu tại Việt Nam.
23 Tóm tắt chương 2. 27 vi CHƢƠNG 3. PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU. Quy trình nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Thống kê mô tả. Phân tích tương quan. Lựa chọn phương pháp xử lý dữ liệu.
Mô hình nghiên cứu. Các biến nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu và nguồn thu thập dữ liệu.
Xác định mẫu nghiên cứu. Nguồn thu thập dữ liệu. 40 Tóm tắt chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Thực trạng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016. Giới thiệu doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm. Đặc thù của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm. 56 Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm.
Kiểm định thực chứng các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm. Thống kê mô tả. Phân tích tương quan. Lựa chọn phương pháp ước lượng.
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy. Phân tích kết quả nghiên cứu. Các kết quả kiểm định độ tin cậy của mô hình nghiên cứu. 67 Kết luận chương 4.
69 vii CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. Kết quả đạt được về nghiên cứu lý thuyết. Kết quả đạt được về mặt ý nghĩa thực tiễn.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm. Chiến lược sử dụng đòn bẩy tài chính. Cơ chế quản trị vốn lưu động. Loại bỏ quan điểm ưu tiên nam giới.
Khuyến khích CEO nâng cao kiến thức chuyên môn. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 75 PHỤ LỤC 1 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề nghiên cứu Phần lớn các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải đặt mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp cung cấp được các sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả cũng là doanh nghiệp đầu tàu góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Các nghiên cứu trước đã tìm ra nhiều nhân tố có ảnh hưởng tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bao gồm các nhân tố xuất phát từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp và cả các nhân tố xuất phát từ bản thân nội tại của doanh nghiệp. Đồng thời, mỗi ngành nghề kinh doanh đều có những đặc điểm riêng, do đó mà các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh khác nhau thì chịu tác động bởi các nhóm nhân tố tác động khác nhau. Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu cả lý thuyết lẫn thực chứng kiểm tra các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu được thực hiện cho tổng thể thị trường và nghiên cứu cho một ngành đặc thù trong nền kinh tế cũng đã được nhiều tác giả thực hiện. Theo như học viên nhận thấy, các nghiên cứu về chủ đề này trong thời gian gần đây quan tâm hơn đến vai trò của người phụ nữ ở vị trí quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu lại cho kết quả chưa thống nhất và đôi khi là trái chiều nhau. Một mặt, các nghiên cứu điển hình như nghiên cứu của Singh & Vinnicombe (2004) cho rằng, tỷ lệ nữ giới không có mối quan hệ rõ ràng với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hay nghiên cứu của Lee & James (2007) lại phát hiện ra rằng, việc thuê một giám đốc điều hành nữ sẽ có mối tương quan âm với giá cổ phiếu của công ty niêm yết. Mặt khác, Tate & Yang (2015) và Ho et al. (2015) lại cho thấy rằng các nhà điều hành doanh nghiệp là nữ giới có tác động tích cực lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong khi đó, các nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ này tại Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt, theo như học viên tìm hiểu được thì nghiên cứu riêng trong phạm vi ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam vẫn chưa được tác 2 giả nào thực hiện.
Việt Nam tự hào là quốc gia có truyền thống lâu đời về việc phụ nữ tham gia hoạt động kinh doanh, và so với nhiều nền kinh tế tương tự, Việt Nam có ít sự khác biệt giữa địa vị pháp lý của nam giới và nữ giới. Tuy nhiên, mặc dù cảm nhận chung là các thách thức mà nữ giới và nam giới phải đối mặt trong việc điều hành doanh nghiệp là không có nhiều khác biệt, nhưng vẫn tồn tại những quan niệm sai lầm ảnh hưởng đến hình ảnh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nhân nữ và các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Do đó, vấn đề nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có tìm hiểu về tác động của nhân tố giới tính nữ của CEO là một vấn đề đáng được quan tâm hiện nay. Lí do chọn đề tài Như đã trình bày trên đây, vấn đề nghiên cứu đã được nhiều tác giả thực hiện trên thế giới và cả ở trong nước.
Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh hiện tại, học viên thực hiện đề tài nghiên cứu với mẫu đại diện là các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam vì hai lý do sau đây: Thứ nhất, ngành chế biến thực phẩm là ngành công nghiệp mà Việt Nam đang có nhiều lợi thế và đầy tiềm năng. Quy tụ phần lớn những đại gia giàu có nhất sàn chứng khoán, ngành chế biến thực phẩm ở nước ta nói chung và các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm nói riêng đang ngày càng nóng lên với sự gia nhập thị trường của hàng loạt nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong những năm trở lại đây, với ưu thế của một quốc gia dân số trẻ và tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, thị trường Việt Nam trở thành thị trường mục tiêu của rất nhiều đại gia bán lẻ đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan. Trong bối cảnh này, các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm đang phải đối đầu với những áp lực cạnh tranh không hề nhỏ.
Bên cạnh đó, các lo ngại về việc bị thâu tóm và triệt tiêu bởi cách doanh nghiệp ngoại là hoàn toàn có cơ sở. Dưới góc nhìn của nhà quản trị doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam, vấn đề nghiên cứu các nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. 3 Thứ hai, thực tế cho thấy chi tiêu cho thực phẩm và đồ uống có quan hệ tỷ lệ thuận với đà tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng, sức cầu cho sản phẩm ngành chế biến thực phẩm cũng ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm nhìn chung vẫn còn nhỏ lẻ và manh mún. Bởi vì, xét trên bình diện chung, các doanh nghiệp nội địa trong ngành chế biến thực phẩm có quy mô còn khá khiêm tốn so với các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp lớn và có đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp ngoại như Vinamilk, Masan, Sabeco hay Vinacafe chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Bên cạnh đó, người tiêu dùng Việt Nam với tâm lý chuộng tiêu dùng đồ ngoại (hay còn gọi là tâm lý sính ngoại) đã góp phần làm gia tăng ngày càng nhiều các thương hiệu hàng tiêu dùng quốc tế.
Đây sẽ là lợi thế giúp các doanh nghiệp nước ngoài dần dần chiếm lĩnh thị trường trong nước nếu các doanh nghiệp trong nước không đẩy mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu. Một ví dụ cụ thể là trong năm 2015, Sabeco dù đạt sản lượng 1,38 tỷ lít bia nhưng qua năm 2016 thì gần như không có tăng trưởng. Nhưng Heineken đã lần đầu tiên vượt qua Sabeco để vươn lên vị trí thứ 2 về sản lượng trong nhóm ngành bia, một phân ngành nhỏ của ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam. Ví dụ thứ hai là trường hợp giai đoạn kể từ năm 2015 cho tới nay, khi thuế suất thuế nhập khẩu giảm xuống còn 0% đối với một số mặt hàng bánh kẹo.
Điều này dẫn đến hiện tượng thị trường bánh kẹo trong nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh không hề nhỏ: đó là sự xuất hiện ồ ạt của các mặt hàng bánh kẹo được nhập khẩu từ nhiều nước trong khu vực ASEAN như: Malaysia, Indonesia và Thái Lan. Ngoài ra, trong thời gian sắp tới, khi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực và việc áp dụng lộ trình cắt giảm thuế suất đi vào thực tế, hàng hóa nhập khẩu thâm nhập vào thị trường Việt Nam càng thuận lợi hơn nữa. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, áp lực cạnh tranh và nguy cơ bị chiếm lĩnh thị phần ngay trên sân nhà của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm là rất lớn. Do đó, vấn đề tìm ra lời giải đáp cho bài toán nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm càng cấp bách hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ tầm quan trọng và sự cần thiết phải tìm hiểu các nhân tố tác 4 động đến hiệu quả hoạt động nhằm giúp cho các công ty ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Học viên quyết định chọn đề tài: “Những nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Qua đó nhằm đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm, giúp các doanh nghiệp kịp thời có những chính sách phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình tránh được nguy cơ bị chiếm lĩnh thị phần cũng như bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp ngoại. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.