Chương 1 đã tổng hợp tình hình của nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn , tiêu biểu là nghiên cứu của: Titman và Wessels (1988), Samuel G.Huang và Frank M. Nhìn chung các nghiên cứu đều xem xét các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn là: khả năng sinh lời (PRO), tấm chắn thuế phi nợ (NONDTS), tài sản hữu hình (TANG), cơ hội tăng trưởng (GRO), rủi ro kinh doanh (VOL) và quy mô doanh nghiệp (SIZE). Trên cở sở các nghiên cứu trước này để làm nền tảng đề xuất mô hình và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp ngành Dược phẩm y tế niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam cho đề tài nghiên cứu này. 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cấu trúc vốn 2.
Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là một thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn trong doanh nghiệp (Brigham và Houston, 2009; Nguyễn Minh Kiều, 2006; Vũ Duy Hào và các tác giả, 1998) thường là nhấn mạnh đến quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Một cấu trúc vốn hợp lí phải đảm bảo sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả, có chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro chấp nhận được, phù hợp với điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.2 Các thành phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp Thành phần cơ bản trong cấu trúc tài chính gồm hai bộ phận chủ yếu là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, nợ phải trả là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước , cho công nhân viên và các khoản phải trả khác. Nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh bao gồm: Vay ngắn hạn ngân hàng, khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nước, các khoản phải trả cho cán bộ công nhân viên, trái phiếu ngắn hạn.
Đối với các khoản ngắn hạn thường thủ tục, quy trình đơn giản và dễ thực hiện, và có chi phí sử dụng vốn thường thấp. Tuy nhiên thời hạn chi trả ngắn nên nếu sử dụng không hiệu quả và điều hành kế hoạch trả nợ không hợp lý có thể đưa đến những rủi ro yếu kém về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nợ dài hạn Nợ dài hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán vốn gốc và chi phí sử dụng vốn sau một thời hạn nhất định bao gồm các khoản 10 vốn vay trung và dài hạn từ các tổ chức tín dụng bên ngoài như ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, từ việc phát hành trái phiếu vay nợ của dân chúng, hay từ các quỹ hỗ trợ phát triển,. Về nguyên tắc vốn vay dài hạn có chi phí sử dụng cao hơn so với nguồn vốn ngắn hạn nhưng doanh nghiệp ít chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn.
Vốn chủ sở hữu Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, nguồn vốn chủ sở hữu là số tiền do các nhà đầu tư, các sáng lập viên đóng góp hoặc được hình thành từ kết quả hoạt động. Đây không phải là một khoản nợ và do đó công ty không có trách nhiệm phải thanh toán. Với những loại hình công ty khác nhau, vốn chủ sở hữu được hình thành khác nhau và gồm 3 loại sau: * Vốn điều lệ: là số tiền do các thành viên sáng lập đóng góp ban đầu khi thành lập. Đây chính là vốn được ghi trong điều lệ công ty.
Riêng đối với các công ty cổ phần, nguồn vốn chủ yếu do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu phát hành của công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ. Đây không phải là khoản nợ nên các công ty cổ phần được toàn quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải cam kết và ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán. Chính vì đặc điểm này cho thấy mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn này.
Vốn góp cổ phần càng lớn thì mức độ tự chủ về tài chính càng cao. * Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: là phần thu nhập của công ty được cổ đông đồng ý cho công ty giữ lại để tái đầu tư thay vì nhận cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động và thuận tiện cho công ty. Tuy nhiên, công ty phải cam kết trả cho cổ đông lãi suất cao hơn cổ tức hiện tại.
* Nguồn vốn từ phát hành thêm cổ phiếu: Các doanh nghiệp có thể tăng thêm vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây chính là kênh huy động vốn rất quan trọng trong chiến lược tài trợ dài hạn của các doanh nghiệp. Các công ty cổ phần có thể phát hành thêm cổ phiếu thông qua thị trường chứng khoán. * Vốn chủ sở hữu khác: bao gồm các nguồn vốn và các quỹ chuyên dùng được hình thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận, bao gồm: quỹ đầu tư phát 11 triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chênh lệch tỷ giá hối đoái,.
Chỉ tiêu đo lƣờng cấu trúc vốn. Chỉ tiêu được sử dụng phổ biến để đo lường cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là chỉ tiêu tỷ suất nợ và tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu. a) Chỉ tiêu tỷ suất nợ (2.1) Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa nợ phải trả trên tổng tài sản. Nó cho biết mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ hay tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bao nhiêu phần trăm từ các khoản nợ.
Khi tỷ suất nợ càng cao thì mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các chủ nợ càng lớn và khả năng tiếp cận các khoản vay nợ càng khó khăn nếu như doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém. Đối với các chủ nợ tỷ suất này càng cao thì khả năng thu hồi vốn đối với các khoản nợ của họ ngày càng giảm. Vì vậy, đây là một trong các chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp. b) Chỉ tiêu tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu, nó phản ánh tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu.2 Các cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (mô hình MM) Modigliani và Miller đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. Lý thuyết MM trong môi trƣờng hông có thuế Năm 1958, Modilligani và Miller giả định là thị trường vốn là hoàn hảo, MM kết luận rằng giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không 12 phải dựa trên cách thức cấp vốn. Không có cấu trúc vốn nào là tối ưu và doanh nghiệp cũng không thể nào gia tăng giá trị bằng cách thay đổi cấu trúc vốn Lý thuyết MM trong môi trƣờng có thuế Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, nên khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay để tài trợ sẽ xuất hiện khoản tiết kiệm bằng tiền tăng thêm đối với các nhà đầu tư , khoản tiết kiệm này chính là lãi vay nhân với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ. Các giả định của lý thuyết MM: Không có thuế thu nhập doanh nghiệp, không có chi phí giao dịch , chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính , cá nhân và tổ chức có thể vay tiền như nhau, thị trường vốn là hoàn hảo và không có nhà đầu tư riêng lẻ nào có một ảnh hưởng lớn đối với giá cả chứng khoán 2.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Scott, 1976) giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần.
Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ. Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình.
Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu 13 là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì lợi ích từ tấm chắn thuế bằng chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp.