TRƯỜĐẠING HỌC LUẬT HÀ NỘI- KHOA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ: KỶ YÊU HỘI THẢO. Dé tai: Những điểm mới của luật sửa đối, bỗ ị ung một số điều của Bộ luật hình sự năm ¡999 HÀ NỘI - 2010 25 | Su Đà a là hổ DANH MỤC CÁC BÀI VIET. ~ Tên bài viết Những nguyên nhân chính dẫn đến sữa đổi và bỗ sung một | 2 số quy định của BLHS 1999 TS. Hoàng Van Hing 2ˆ [Hình phạt từ hình trong BLHS Việt Nam năm 1999 theo] 7 luật sửa đổi bd sung một số điều của BLHS lần thứ nhất và | phương hướng hoàn thiện _ Thổ: Phạm Văn Béw 3 | Về tình tiết “đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm” trong | 20 quy định của Luật hình sự Việt Nam L NGUT.
Th§ Trin Đức Thin | 4ˆ | Van đề định lượng giá trị tài sản trong các quy định của BLHS năm 1999 TS. Ngiyễn Văn Hươn 5_ | Mặt Số điểm mới trong chương các tội xâm phạm trật tự] 34 quản lý ảnh Ế của luật sta đổi, bổ sung một số điều của BLUS năm 1999 CN. Vũ Hải Anh 6 | Tại xâm phạm quyền sở hữu sông nghiệp - Một số vẫn đỀ|_ 39 cần nghiên cứu, trao a TS Lê Đăng Doanh 7 [Van để trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi] 45 xâm phạm quyền ác giá Th6 Lưu hải Yên| — — 8ˆ | Những điểm mới trong quy định của Luật sửa đổi, bổ sung | 48 một số điều của BLHS năm 1999 về các tội phạm về môi trường | TS: Cao Thị Oanh: ‘9 | Bàn về cơ sử của việc phi tội phạm hoá đối với hành vi sử | “53 dụng trái phép chất ma tuý ở Việt Nam | TS Nguấn TuyétMai |__| in HỒN TH THE (ps0 tật hà hộ M6PB NHUNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH DAN DEN SỬA ĐÔI VÀ BO SUNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CUA BLHS 1999 TS. Hoàng Văn Hing Khoa Pháp luật hình se Sau gần 10 năm có hiệu lực pháp luật Bộ luật hìnb sự Việt Nam năm 1999 được sửa đổi và bổ sung theo Luật sửa đổi và bố sung một số điều của Bộ luật hình sự ngày 15 tháng 6 năm 2009.
Các nội dung được sửa đổi đáp tg những yeu cầu co bản của công tác đầu tranh phòng chống tội phạm. Các nguyên nhân dẫn đến sửa đổi Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 là: 1.Nguyên nhân thứ nhất: sự cần thiết phải thể chế hoá các chủ trương chính. sách mới của Đảng sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 bằng, sắc quy định pháp luật trong đó có các quy định của luật hình sự, đáp ứng những. xyêu cầu mới trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong tinh hình mới BO luật hình sự Việt Nam năm 1999 ra đời trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý của Bộ luật hình sự năm 1985 và các văn bản pháp lý hình sự khác trước đây.
Bộ luật hình sự năm 1999 cũng đã sing lọc, tiếp nhận, tổng kết các kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm từ thực tiễn phong phủ ké từ ngày thành lập nước đến nay, tham khảo kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm, kinh nghiệp xây dựng pháp luật hình sự của một số nước trên thé giới "ĐỂ dip ứng yêu cầu đầu tranh phòng chồng tội phạm Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đã thể chế hóa các chủ trương chính sách của Đảng trước năm 1999, Tuy nhiên trước yêu cầu bức thiết của xã hội và điều kiện thuận lợi khác ngay sau khi Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 ra đời và bắt đầu có hiệu lực, Đảng te đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến công tác đầu tranh phòng, chống tội phạm. Đó lả: Nghị quyết số 08/NQ- TƯ ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ công téc tư pháp trong thời gian ti, Nghị quyết số 49/NQ-TU ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính tr về Chiến luge cải cách tư pháp đến năm 2020. Các văn bản trên đây đặt ra những yêu cầu mới rong đấu tranh phòng chống tội phạm như: hạn chế áp dụng hình phạt tr hình, chi ấp dụng hình phạt tử lối với một số tội phạm đặc biệt nghiêm trong, bổ sung một số dau hiệu áp lý của các tội phạm đã quy định, quy định tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới trong phát triển kinh tế, xã hội, công nghệ va hội nhập quốc tế Các chủ trương chính sách mới của Bang đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo và xác định phạm vi cho hoạt động sta đổi và bỗ sung Bộ luật hình sự Việt Nam năm1999. Sửa đổi và bộ sung Bộ luật hinh sự Việt Nam năm1990 cần phải tuân thủ trệt để bảy quan điểm sau đây: 2 - Một là: hạn chế áp dụng bìh phạt tử hình đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tiến tới thay thể tử hình bằng biện pháp khác và lâu dài sẽ bố tử hình - Hai lis quy định một số hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phết tiển kinh tế, xã hội, khoa học, kịp thời tran áp tội phạm, phù hợp với xu hướng bội nhập quốc té của nước ta vả thực hiện các cam kết quốc tế trong dầu tranh phòng chồng tội phạm.
- Ba là: sia đổi và bổ sung những nội dung thực sự cấp bach để giải quyết nhưng vướng mắc, khắc phục những hạn chế trong đầu tranh phòng chống tội phạm hiện nay và trong thời gian tới, đáp ứng yêu edu ngày cảng cao của quá trình hội nhập quốc tế trên nhiễu lĩnh vực của đời sống xã hội. ~ Bến là: sửa đổi và bd sung B6 luật hình sự phải được tiến hành trên cơ sở tổng. kết thực tiễn lập pháp hình sự và áp dụng các quy đỉnh của luật hình sự trong đầu tranh phòng, chống tội phạm. ~ Năm la: sửa đổi và bổ sung Bộ luật hinh sự phải được tiến hành trên cơ sở chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của các nước trên thể giới.
~ Sau là: sửa đổi và bd sung Bộ luật hình sự phải đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện hanh, chú ý đến sự tương thích với các quy định của các ngành luật khác có liên quan. ~ Bảy là: sửa đổi và bổ sung Bộ luật hình sự phải tuân thủ nguyén tắc là luật hình. sự phải tương thích, hải hòa, phủ hợp với các điều ước quốc tế ma Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia ky kết hay công nhận, “Xuất phát từ thời gian dành cho việc sửa đổi bỏ sung không nhiều và thời gian thực thi các quy định của Bộ luật hình sự chưa đến 10 năm nên phạm vị sửa đôi va bé sung Bộ luật hinh sự Việt Nam năm 1999 chỉ tập trung vào các vấn đề bức xúc nhất của đầu tranh phòng, chồng tội phạm. Đó là bay vấn để cơ bản sau: ~ _ Giảm hình phạt tử hình đó với một số tội pham cụ thé trong Bộ luật Đình sự Việt Nam năm 1999.
= Điều chính mức định lượng clin thiết để truy cứu trách nhiệm hình sự. đối với một số tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999. + Điều chỉnh các đấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm của các tội phạm kinh tẾ trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, ~ Điều chỉnh các đấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm của các tội am vé môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999. ~_ Điều chỉnh các đếu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm của các tôi phạm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, ~_ Điều chỉnh các đấu hiệu pháp lý của cấu thảnh tội phạm của các tội khủng bố, rửa tiễn trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
a = Bỗ sung một số hành vi cần tray cứu trách nhiệm hình sự trong một sé lĩnh vực của đồi sống x# hội không ngừng đổi mới, đáp ứng yêu cầu chủ trương cải cách tư pháp, hòa nhập quốc tế. Đối với việc bỏ hình phạt tử hình cần tuân thủ các tiêu chí cơ bản sau: ++ Một là: vige bỏ hình phạt tử hình phải phủ hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và các đặc điểm nhân thân của người phạm tội + Hai là: phải đáp ứng yêu cầu bảo vệ của khách thé bị xâm hại + Da là: phái phủ hợp với tình hình thực tiễn áp đụng hình phạt tử hình những năm vừa qua rong đâu tranh phòng chống ti phạm, + Bồn là: khả năng trấn áp tội phạm bằng các hình phạt khác ngoài tử. hình + Năm là: phù hợp xu hướng của luật hình sự quốc tế hạn chế tử hình và. tến tới bãi bé tử hình.
2 Nguyện nhân thứ hai: quy định của Bộ luật hình sự hiện hành v các cấu thành của một số tội phạm về môi trường, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin còn quá khó khăn cho cán bộ tw pháp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm trong thực tiễn Khi xây dựng Bộ luật hình sự 1999, các tội phạm về môi trưởng là lĩnh vực lội phạm được biên soạn khá công phu của các nha lập pháp hình sự Việt Nam có sự tham vấn của chuyên gia hình sự nước ngoải, trong thời gian vừa qua, từ thực tiễn đầu tranh phòng chống tội phạm các quy định về tội phạm môi trường đã bộc lộ rõ hạn chế về các dấu hiệu pháp lý, các khung hình phạt cũng, hự các tỉnh tiết tăng nặng định khung cùng các hình phat tương ứng, cẦn có sự “điều chỉnh theo hướng tinh gon, cụ thể để đầu tranh có hiệu quả đó với loại hình {Gi phạm ngây cảng phát triển và tạo ra nhiễu bức xúc trong xã hội này. Đồi với các tội phạm về môi trường cần quy định rõ hơn về các dầu hiệu pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tổ và xết xử. Tuy luật hình sự Việt Nam chưa quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm nhưng mức, phạt tiền đôi với các tội phạm về môi trường như quy định của Bộ luật hình sự 1999 là quá thấp, Cin tăng mức phạt tiền và làm cho phạt tiền thực sự là hình phạt phổ biển dối với các tội phạm về môi trường nói riêng và toi phạm nói chúng, 3.