MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tiếp biến có chọn lọc những xu hướng tiến bộ văn minh khoa học kỹ thuật hiện đại, nghệ thuật Múa Việt Nam dần tiếp nhận “Múa đương đại” như một bộ phận mới, một lĩnh vực tuy mới mẻ nhưng thu hút nhiều sự chú ý đặc biệt đáng kể. Các tác phẩm múa đương đại đến gần với công chúng bằng nhiều cách tiếp cận mới thông qua các thành tố nghệ thuật khác nhau trong cấu thành tác phẩm như: Đề tài, nội dung tác phẩm, âm nhạc, kĩ thuật biểu diễn (diễn viên), trang phục, âm thanh, nghệ thuật ánh sáng… Trong đó, vai trò cốt lỏi chính là những diễn viên múa - Do vậy đào tạo phát triển nguồn nhân lực diễn viên múa đương đại như thế nào để chất lượng ngày càng nâng cao, đáp ứng nhu cầu hiện nay của khán giả đó là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhiều nhất. Múa đương đại - một loại hình nghệ thuật phản ánh hiện thực đời sống xã hội của con người bằng ngôn ngữ đặc thù riêng của mình.
Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cảm xúc, một thông điệp của người nghệ sĩ mà họ nhận thức đối với cuộc sống. Các quốc gia trên thế giới đã tiếp nhận múa đương đại và từng bước bản địa hóa nó trở thành một nhân tố mới của nghệ thuật nước nhà. Múa đương đại Việt Nam được tiếp biến từ yếu tố ngoại sinh vào cuối những năm 1980. Gần 30 năm du nhập, múa đương đại không còn mới lạ đối với công chúng và những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật.
Đây cũng là một trong những môn học bắt buộc đối với đào tạo diễn viên múa chuyên nghiệp hiện nay. Năng khiếu bẩm sinh là yếu tố tiên quyết của mỗi cá nhân khi tham gia nghệ thuật. Đặc thù đào tạo nghệ thuật múa nói chung cũng như múa đương đại nói riêng đều có những đòi hỏi chuyên biệt trong đối tượng tuyển sinh ngoài yếu tố năng khiếu múa và âm nhạc còn cần độ tuổi, các tố chất về hình thể. Quá trình 2 đào tạo diễn ra trong một thời gian dài.
Thực tế trong nhiều năm qua, do chất lượng đào tạo nghệ thuật múa khu vực phía Nam chủ yếu phát triển theo chiều rộng, phát triển chiều sâu và đào tạo đỉnh cao còn rất nhiều hạn chế trong khi nhu cầu của xã hội lại khá lớn do nhiều vấn đề bất cập dẫn đến chất lượng đầu vào, chất lượng đào tạo chưa cao, không đồng đều. ảnh hưởng đến chiến lược đào tạo cho ngành múa Việt Nam cả về số lượng và chất lượng.HCM là trung tâm hội tụ và phát triển kinh tế - giáo dục văn hóa - xã hội năng động có sức lan tỏa rộng của khu vực phía Nam; là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi giao lưu nhiều kênh văn hóa khu vực và thế giới; là nơi có thị phần lớn bởi nhu cầu phát triển thành phố hiện đại năng động văn minh nên tất yếu là địa bàn thuận lợi để phát triển một loại hình nghệ thuật mới và hiện đại. Môi trường nhiều thuận lợi nhưng thực tế hiện nay mâu thuẫn hiện chưa có tiếng nói rõ ràng của đơn vị nào trong vai trò chủ thể có sức tác động mạnh chi phối được sự phát triển múa đương đại - một loại hình mới - tại Tp.HCM ngoại trừ tin tức hạn chế của truyền thông, báo chí. Thực tiễn, múa đương đại chưa phát triển đồng bộ mà chủ yếu dựa vào sự đam mê, bền bỉ mở đường của từng nghệ sĩ trẻ tiên phong tại các đơn vị, múa đương đại thành phố được nhận định đang phát triển nhưng có những dấu hiệu rời rạc.
Là một người đang giảng dạy về múa đương đại tại tại Trường Trung cấp Múa Tp.HCM, tác giả luận văn nhận thấy rằng, bên cạnh những mặt tích cực cũng như những thành tích mà trường đã đạt được thì vẫn còn nhiều mặt hạn chế, tiêu cực trong công tác giảng dạy, đào tạo diễn viên. Và những hạn chế này xuất phát từ những yếu tố khách quan, chủ quan trong quá trình đào tạo của trường. Để đáp ứng được nguồn nhân lực diễn viên múa đương đại chất lượng cao, việc nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Trung cấp Múa Tp.HCM nói riêng và các cơ sở đào tạo khác nói chung là vô cùng cần thiết. 3 Đây là một đề tài mới, có tính lý luận, khoa học và thực tiễn, khi sự nghiên cứu là cả một quá trình, từ sự xuất hiện, tiếp biến, hình thành và phát triển.
Hơn nữa, trong xu thế hiện đại thời nay, khi đã có nhiều người dần biết và quan tâm đến nghệ thuật múa chuyên nghiệp, đặc biệt là múa đương đại thông qua các chương trình truyền hình thực tế, game show,…Vì thế, truyền đạt như thế nào? Đào tạo như thế nào để những diễn viên múa có thể cảm nhận và phát huy được loại hình nghệ thuật này cũng như khán giả có thể cảm thụ được tinh hoa của loại hình nghệ thuật này? Đó là lý do mà học viên chọn đề tài Nhu cầu nguồn nhân lực múa đương đại tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý văn hóa với mong muốn góp phần mang lại hiệu quả cao trong công tác đào tạo diễn viên và phát triển bộ môn múa đương đại tại Trường Trung cấp Múa Tp.HCM cũng như các cơ sở đào tạo khác. Từ đó xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực múa đương đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Múa đương đại chính thức du nhập vào Việt Nam từ năm 1988 ẩn trong các tác phẩm múa đương đại qua các chương trình giao lưu, trình diễn và sự giúp đỡ của các tổ chức, các chuyên gia, biên đạo đến từ châu Âu, Úc, Mỹ. Bằng con đường giao lưu văn hóa, các nghệ sĩ quốc tế đã giới thiệu cái hay, cái đẹp, cái tiên tiến, cái lạ của múa đương đại qua các tác phẩm múa.
Tuy nhiên, phải đến những năm cuối của thế kỷ XX, múa đương đại mới thực sự gia nhập vào dòng chảy chính thống của nghệ thuật múa Việt Nam sau khi một số nghệ sĩ múa Việt Nam được cử đi du học, làm việc tại các công ty múa, đoàn múa của các nước có nền nghệ thuật múa Hiện đại phát triển, như Đức, Pháp, Úc, Thụy Sỹ, Anh, Hà Lan,… Dù rằng múa đương đại giữa mỗi nước có sự chênh lệch khá lớn về cấp độ bởi yếu tố bản địa hóa khi du nhập của thể loại múa này, bản thân múa đương đại ở 4 trong từng nước cũng có sự khác biệt lớn về phong cách ở mỗi nhà hát, mỗi đoàn múa, công ty múa. Những nghệ sĩ Việt Nam khi được học tập hay tham gia biểu diễn trong các tác phẩm, vở diễn cụ thể thì đều phải thích ứng với yêu cầu về phong cách, kỹ thuật rất khác biệt trong nội hàm tác phẩm ấy theo chất riêng và cá tính nổi trội của người biên đạo. Có thể nói, năng khiếu, tố chất của người nghệ sĩ là yếu tố nền tảng, là cơ sở ban đầu để người nghệ sĩ được tuyển chọn vào nghề. Nhưng năng khiếu, tố chất đó không được kinh qua đào tạo thì khó trở thành tài năng.
Riêng đối với ngành múa, nếu không khổ luyện, kỳ công thì rất khó thành công. Do vậy đào tạo bài bản, chất lượng là vấn đề cần thiết và cấp bách .Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn chưa có sự nhìn nhận và đãi ngộ tương xứng cho ngành nghệ thuật này, cả trong hoạt động nghệ thuật cũng như ở khâu đầu tiên là đào tạo. Sự đa dạng trong hiện thực sáng tác cũng như giảng dạy về thể loại múa đương đại tại Việt Nam là do mỗi nghệ sĩ được “tiếp cận” ở một nước khác nhau, chứ chưa thể gọi là “đào tạo” có bài bản theo một hay nhiều trường phái cụ thể của múa đương đại. Ở một khía cạnh khác, việc được tiếp cận múa đương đại ở vai trò là diễn viên đã tạo điều kiện để tiếp cận cái sáng tạo của sáng tạo từ gốc, hiển nhiên được tích hợp cả phong cách này với phong cách khác, trường phái này với trường phái khác khiến không phải diễn viên nào cũng có đủ lý luận để gọi tên được phong cách, trường phái mà mình đã được tiếp cận.
Như đã trình bày ở trên, mỗi trường phái đều có một yêu cầu, quan điểm, cảm nhận riêng, nếu bị trộn lẫn và pha tạp thì có thể ai đó hiểu đơn giản múa đương đại là chuyển động phóng khoáng, tự do, ngẫu hứng hoặc có thể kết hợp với tất cả mọi thứ có tên gọi là nhảy, múa hoặc các loại hình nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, hội họa, ánh sáng… rơi vào đường đi của nó. Đôi khi sự vận dụng thiếu lý luận hoặc vận dụng không nắm rõ “gốc rễ” của vấn đề đang vận dụng sẽ làm cho múa đương đại trở 5 nên là một thể loại múa “làm dâu trăm họ”. Số nghệ sĩ múa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cử đi học theo con đường chính thống về múa đương đại không nhiều, chủ yếu dựa vào con đường hợp tác phát triển văn hóa nghệ thuật từ các Trung tâm Văn hóa của các nước có nền nghệ thuật múa Hiện đại phát triển. Dự án trao đổi văn hóa tại các nước Châu Á trong đó có Việt Nam của Biên đạo múa Cheryl Stock - Giám đốc nghệ thuật Đoàn múa Phương Bắc trong 10 năm với Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam, Nhà hát Tuổi trẻ, Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam đã cho ra đời một số vở múa đương đại đầu tiên như Qua miền đất lạ (1989), Đất và nước (1991), Những người bạn đồng hành (1993), Em, người phụ nữ Việt Nam (1996), Qua mắt Phượng Hoàng (1998).