CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm chung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Từ điển Luật học định nghĩa: “Thẩm phán là người chuyên làm công tác xét xử các vụ án”1. Đây là cách hiểu chung và chưa thể hiện đầy đủ nhất những gì liên quan đến Thẩm phán.
Về mặt pháp lý thì tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân (PLTP&HTTAND) năm 1993 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc quyền của Toà án”. Đến năm 2002, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành PLTP&HTTAND, thì quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”2. Như vậy, khái niệm về Thẩm phán theo PLTP&HTTAND năm 2002 có ngoại diên rộng hơn vì xét xử không phải là nhiệm vụ duy nhất của Thẩm phán mà Thẩm phán còn giải quyết những công việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Điều này cho thấy hiểu về Thẩm phán là một quá trình nhận thức của xã hội và Nhà nước ta theo chiều hướng ngày càng đề cao vị trí, vai trò của người Thẩm phán.
Tòa án thực hiện chức năng xét xử thông qua hoạt động của những con người cụ thể như Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, cán bộ Tòa án nhưng người đóng vai trò chủ yếu và quyết định nhất khi thực hiện chức năng của Tòa án chính là Thẩm phán. Thẩm phán là người được đào tạo chuyên nghiệp để thực hiện nhiệm vụ xét xử, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của Tòa án trước hết thuộc về nhiệm vụ Thẩm phán, vị trí của Thẩm phán gắn liền với vị trí Tòa án. Toà án có vị trí trung 1 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ Điển Bách Khoa; NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr. 2 Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002.
7 tâm trong các cơ quan tư pháp3 nên Thẩm phán cần được nhìn nhận với vị trí quan trọng nhất trong các chức danh tư pháp. Thẩm phán là người trực tiếp thực hiện quyền hành xét xử nên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tố tụng, trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, xã hội và công dân, đem lại công bằng cho xã hội, đảm bảo cho sự ổn định, phát triển và mang ý nghĩa xã hội to lớn. Chính vì thế từ xa xưa người ta đã tôn vinh nghề Thẩm phán như là biểu tượng của khát vọng về một nền công lý4. Hiện nay, có nhiều bài viết về người Thẩm phán như “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Đặng Văn Dùng; “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” của tác giả Trần Thị Bích Ân; hay “Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Vân.
Những bài viết này đều đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán và cho rằng địa vị pháp lý của họ là bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán. Trong đó, quyền pháp lý của Thẩm phán là tổng thể quyền năng mà pháp luật tố tụng hình sự quy định cho Thẩm phán được làm, được hưởng khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự5. Đó là quyền đưa ra các quyết định khi nghiên cứu hồ sơ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; quyết định đưa vụ án ra xét xử (QĐĐVARXX); quyền tham gia xét xử các vụ án hình sự, … Còn nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán là tất cả những hoạt động mà pháp luật tố tụng hình sự buộc phải thực hiện hoặc cấm không được thực hiện và Thẩm phán bắt buộc phải tuân theo6. Đó là nghĩa vụ từ chối tham gia xét xử; nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nghĩa vụ từ chối tham gia xét xử.
Tuy nhiên, không giống như những người tham gia tố tụng, pháp luật tố tụng hình sự quy định cho những người này có những quyền và nghĩa vụ khi họ tham gia tố tụng. Đối với Thẩm phán, thì pháp luật tố tụng hình sự cũng 3 Xem thêm tiểu mục 1.2 mục 1 phần I Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”. 4 Xem Nguyễn Thị Thanh Vân (2010), Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 5 Xem Nguyễn Thị Thanh Vân (2010), Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
6 Xem Trần Thị Bích Ân (2009), Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8 như PLTP&HTTAND năm 2002 không có quy định về quyền và nghĩa vụ của họ mà chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của họ khi tiến hành tố tụng7. Rõ ràng là khi Tòa án tiến hành các hoạt động xét xử, thì người Thẩm phán phải được giao những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để họ đại diện thực hiện các công việc của Tòa. Theo Từ điển Tiếng Việt thì nhiệm vụ được định nghĩa như “là công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định”8; quyền hạn “là phạm vi, mức độ quyền của cá nhân hoặc tổ chức nào đó”9.
Cả hai cách giải thích khái niệm này đều chưa thể hiện rõ nghĩa cho chính thuật ngữ mà nó giảng nghĩa. Hiểu như vậy thì nhiệm vụ, quyền hạn tựu chung có nghĩa là công việc phải làm trong một giai đoạn và được trao quyền ở một mức độ nào đó. Khi liên kết giữa các khái niệm này, thì ta thấy rằng nhiệm vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được hiểu cơ bản là những công việc mà Thẩm phán làm vì mục đích phục vụ Nhà nước, nhân dân trong một thời gian. Thời gian này là thời gian mà Thẩm phán được bổ nhiệm và được phân công làm những công việc nhất định.
Trong trường hợp này, đó là những công việc được giao trong lĩnh vực tố tụng hình sự và khi đó nhất thiết Thẩm phán cũng phải được giao các quyền nhất định để nhằm thực hiện công việc được giao. Quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được hiểu là phạm vi, mức độ Thẩm phán được làm, được chi phối các đối tượng có liên quan khi thực hiện những công việc được giao trong tố tố tụng hình sự. Đây là mối tương quan giữa nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán, khi thực hiện nhiệm vụ thì có các quyền hạn, khi thực hiện các quyền hạn của Thẩm phán thì phải đảm bảo những mục đích mà nhiệm vụ đề ra. Tính xuyên suốt không tách rời của nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự thể hiện rõ qua Điều 39 BLTTHS (Bộ luật tố tụng hình sự) năm 2003.
Rõ ràng, nhìn vào cách đánh giá của nhà làm luật thì ta thấy không có ranh giới phân định rạch ròi giữa nhiệm vụ và quyền hạn. Pháp luật tố tụng hình sự không có những quy định cụ thể đâu là nhiệm vụ, đâu là quyền hạn mà quy định nhiệm vụ, quyền hạn gắn liền nhau. Bởi trong rất nhiều trường hợp không thể phân biệt rạch ròi đâu là quyền và nhiệm vụ của Thẩm phán vì 7 Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. 8 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, Hà Nội, tr.
9 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, Hà Nội, tr. 9 khi thực hiện nhiệm vụ cũng là thực thi quyền hành và ngược lại. Chẳng hạn Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại … và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa nhưng việc nghiên cứu hồ sơ không chỉ là nhiệm vụ mà cũng là quyền của Thẩm phán chủ toạ phiên tòa (khoản 1 Điều 176 BLTTHS năm 2003). Cụ thể hơn tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, …Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây: a) Đưa vụ án ra xét xử; b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án”.
Theo quy định này, đã cho thấy việc đưa vụ án ra xét xử, … là nhiệm vụ nhưng cũng là quyền hạn của Thẩm phán. Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án nơi mình công tác hoặc Toà án nơi mình được biệt phái đến làm nhiệm vụ có thời hạn (PLTP&HTTAND năm 2002), có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác theo quy định của pháp luật (PLTP&HTTAND năm 2002) và được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xét xử (Điều 9 PLTP&HTTAND năm 2002). Bên cạnh đó, Thẩm phán không được làm những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm. Không được tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật.
Không được can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án. Nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền, Thẩm phán không được đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan. Không được tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định (Điều 15 PLTP&HTTAND năm 2002). Đồng thời phải từ chối tham gia 10 xét xử trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định (Điều 16 PLTP&HTTAND năm 2002).