CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trình bày nội dung các khái niệm trong mô hình nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu liên quan, phát triển các giả thuyết và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mô tả quy trình thực hiện nghiên cứu, các phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu, kích thức mẫu và cách thức thu thập mẫu nghiên cứu. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trình bày nội dung kết quả của nghiên cứu và thảo luận về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ NHĐT tại BIDV CN Bến Thành.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trình bày các kết luận về các mục tiêu nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm cơ bản Ngân hàng điện tử Năm 1980, một ngân hàng ở Scotland đã cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử khá sớm trên thế giới (Tait, Fand Davis, 1989). Tuy nhiên dịch vụ này chính thức được cung ứng vào năm 1990 và ngày càng phát triển mở rộng (Daniel, 1998). Tại Việt Nam, NHĐT bắt đầu xuất hiện vào năm 2004 và hiện đang phát triển mạnh mẽ tại các ngân hàng thương mại.
Theo thông tư số 21/2018/TT-NHNN về việc quy định an toàn và bảo mật cho việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng qua Internet do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành ngày 28/12/2018, “Dịch vụ ngân hàng trên Internet (NHĐT) là các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán được các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet”. Từ các định nghĩa trên, bài nghiên cứu này định nghĩa dịch vụ NHĐT là dịch vụ cung cấp tự động hệ thống các thông tin sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua đường truyền internet. Đây là kênh phân phối rộng khắp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho khách hàng ở bất cứ đâu và ở bất cứ thời điểm nào. Bằng cách kết nối internet thông qua thiết bị điện tử như máy vi tính, điện thoại,., khách hàng có thể truy cập thông qua website, ứng dụng của ngân hàng để được cung cấp thông tin, hướng dẫn đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.
Thông qua tên truy cập và mật khẩu được đấp, khách hàng có thể xem số dư tài khoản, in sao kê, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn,. NHĐT còn là một kênh phản hồi thông tin hiệu quả giữa khách hàng và ngân hàng. Thulani và cộng sự (2009) chỉ ra rằng: “NHĐT đã qua ba cấp độ phát triển: (1) Cấp độ cung cấp thông tin (Informative): đây là cấp độ nền tảng và thấp nhất của NHĐT. Ở cấp độ này, thông tin về sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng được cung cấp công khai trên hệ thống website, ứng dụng của ngân hàng; (2) Cấp độ trao đổi thông tin (Communicative): cấp độ này cho phép có một số các tương tác giữa hệ thống của ngân hàng và khách hàng.
Các tương tác này có thể bị giới hạn ở việc nhận và phản hồi thư điện tử, truy vấn thông tin tài khoản hoặc thực hiện đăng ký sử 10 dụng một số dịch vụ cơ bản như truy vấn thông tin giao dịch, xem biểu phí, tỷ giá hối đoái, lãi suất.; (3) Cấp độ giao dịch (Transactinal): cấp độ này cho phép khách hàng được thực hiện giao dịch với ngân hàng trên cơ sở can thiệp nhất định vào hệ thống ngân hàng lõi (core banking) của các ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch chủ chốt với mức độ tương tự như các giao dịch tại quầy do nhân viên ngân hàng thực hiện như hoạt động mở tài khoản, vấn thông tin, mua sắm, thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, gửi tiết kiệm” Vai trò của dịch vụ NHĐT trong các hoạt động kinh tế ngày càng trở nên quan trọng, mang lại lợi ích to lớn cho ngân hàng và khách hàng. Theo Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2012), lợi ích của NHĐT: “Đối với ngân hàng, mặc dù cần đầu tư một lượng vốn ban đầu lớn để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin và phần mềm tương ứng cung cấp dịch vụ NHĐT, nhưng điều đó cũng giúp ngân hàng giảm áp lực về cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên và chi phí kinh doanh. Ngoài ra, NHĐT giúp nâng cao hiệu quả tìm kiếm và xử lý chứng từ, gia tăng mức độ hài lòng của khách hàng và mở rộng thị trường, xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu toàn cầu.
Đối với khách hàng, NHĐT giúp tiết kiệm chi phí và thời gian, nâng cao chất lượng, tốc độ giao dịch và khách hàng có thể thực hiện giao dịch mọi lúc mọi nơi”. Khái niệm dịch vụ Theo Kotler (2001), dịch vụ được định nghĩa như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Theo Zeithaml & Britner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật giá cả năm 2012: “Dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”.2 Đặc điểm cơ bản của chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được định nghĩa theo nhiều cách, có rất nhiều các nhà nghiên cứu đi trước đã định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Theo Svensson (2002),“Chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ”. Theo (Lewis và Booms, 1983) thì:“Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi mức độ dịch vụ được đưa đến cho khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu”. Theo (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng và cộng sự, 1996; Wisniewski & Donnelly 1996) thì: “Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng”.
Theo (Edvardsson, Thomsson & Ovretveit, 1994) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là dịch vụ ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ”. Lấy ví dụ, (Lehtinen, 1982) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ”. Theo (Gronroos, 1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ đó là: “(1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng”.
Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra: “mô hình năm khoảng cách và năm thành phần chất lượng dịch vụ, gọi tắt là SERVQUAL”. Đặc biệt khi nhắc đến chất lượng dịch vụ không thể không nhắc đến Parasuraman và cộng sự (1988). Theo Parasuraman (1985, 1988): “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Ông được xem là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh vực tiếp thị so với việc đưa ra mô hình:“5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ”.1 Mô hình chất lượng của Panasuraman và cộng sự Nguồn: Panasuraman và cộng sự 1985 • Khoảng cách thứ nhất: “Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị dịch vụ cảm nhận về kỷ vọng này của khách hàng.
Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu biết được hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ minh cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ”. • Khoảng cách thứ hai: “Xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp các khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính chất lượng dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, công ty có thể nhận thức được kỳ vọng của khách hàng nhưng không phải công ty luôn có thể chuyển đổi kỳ vọng này thành những tiêu chí cụ thể về chất lượng và chuyển giao theo đúng kỳ vọng cho khách hàng. Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ 13 nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều của cầu dịch vụ.
Có những lúc cầu về dịch vụ quá cao làm cho công ty không thể đáp ứng kịp”. • Khoảng cách thứ ba: “Xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chỉ đã được xác định. Vai trò nhân viên giao dịch trực tiếp rất quan trọng trong việc tạo ra chất lượng dịch vụ. Trong dịch vụ, các nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra chất lượng.
Tuy nhiên, không phải lúc nào và tất cả các nhân viên đều có thể hoàn thành nhiệm vụ theo tiêu chỉ đã đề ra”. • Khoảng cách thứ tư: “Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được. Phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo khuyến mại có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo những gì đã cam kết”.
• Khoảng cách thứ năm: “Khoảng cách 5 chính bằng khoảng cách 1 – khoảng cách 2 – khoảng cách 3 + khoảng cách 4”. Nói tóm lại, tất cả khách hàng đều có một kỳ vọng lý tưởng về dịch vụ mà họ muốn nhận được khi họ sử dụng. Chất lượng dịch vụ là đo lường được mức độ tối ưu của dịch vụ với mong đợi KH. Doanh nghiệp nào đáp ứng hay vượt trên mong đợi của khách hàng được xem là doanh nghiệp có chất lượng dịch vụ cao.