Chương 1: Giới thiệu dé tai Trong chương nay luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tải, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tông quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến rủi ro phá sản của NHTM với thước đo Z — Score cũng như tiêu chí đo lường, các nhân tố ảnh hưởng đến nguy cơ phá sân tại các NHTM. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trồng nghiên cứu. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cánh các NHTM Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu.
Cuối cùng chương nảy sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập đánh giá ban đầu về tình hình nguy cơ phá sản tại các NHTM trong giai đoạn 2014 — 2023. Sau đó sẽ tiến 6 hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phủ hợp, các khuyét tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng.
Từ kết qua đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan. Chương 5: Kết luận và hàm ý Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến nguy cơ phá sản của các NHTM Việt Nam. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hảm ý khả thi cho các NHTM Việt Nam đề hạn chế nguy cơ phá sản thông qua việc điều chỉnh các nhân tô ảnh hưởng tới nó. TOM TAT CHUONG 1 Chương | trinh bay ly do lựa chọn để tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành.
Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu đề giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại 2. Rủi ro tại ngần hàng thương mại Mehr và Cammack (1961) cho rằng rủi ro là sự không chắc chắn về những tổn thất có thể gặp trong tương lai. William và Prather (2010) thì cho rằng rủi ro là những biến cố không chắc chắn xảy ra và có thể ảnh hưởng tới các kết quả so với kỳ vọng. Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng rủi ro là một sự không chắc chắn hay mô tả cho một tính trạng bất ôn.
Nhưng không phải bất cứ sự bắt trắc nào cũng được xem là rủi ro, những tình huống bat ồn hoặc không chắc chắn có thể tiên liệu được khả năng và xác suất xây ra thì được xem là bất trắc chứ không phải rủi ro. Hay nói cách khác, rủi ro là những bắt trắc không thê đo lường được bằng xác suất hoặc rúi ro là một tập hợp con của bât trắc. Do đó, khi áp dụng khái niệm này với ngành ngân hàng thì Fitch (1997) cho rằng rủi ro được xem là những sự việc xây ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xâu đến hoạt động kinh doanh, nó gắn liền với sự suy giảm lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Rose (1999) cho rằng rủi ro tại ngân hàng chủ yêu gồm bốn loại chính là rủi ro tín dụng, lãi suất, tỷ giá và thanh khoản.
Với đặc thù là tổ chức kinh doanh tiền tệ thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn xuất hiện tại mọi nghiệp vụ và có thể xảy ra bắt cứ lúc nào, đặc biệt là những tình huống mà ngân hàng không lường trước được. Do đó, nếu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng xảy ra với tần suất và quy mô lớn thì dễ dàng gây ra các hiệu ứng xấu kéo theo trên thị trường như chứng khoán, bất động sản, thương mại,. suy giảm theo. Bessis (2011) cũng cho rằng rủi ro đối với ngân hàng là những biến có không được mong đợi khi chúng xuất hiện sẽ làm tổn thất tài sản, giảm sút thu nhập thực tế so với những gì mà ngân hàng kỳ vọng.
điều này làm cho ngân hàng phải tiêu tốn thêm một khoản chi phí để hoàn thành được công việc hoặc sẽ phải chịu thua thiệt hoàn toàn. 8 Tóm lại, tại luận văn này thì rủi ro tại các NHTM được xem là các tình huống bắt trắc, nằm ngoài ý muốn mà các NHTM không thể tính toán hay đo lường một cách chính Xác sự xuất hiện của nó, rủi ro này gắn liền với Sự suy giảm về lợi nhuận hay hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phá sản tại ngân hàng thương mại Altman (1968) cho rằng phá sản là tình trạng mả một tổ chức kinh doanh bị mất đi khả năng thanh toán với các khoản nợ, bị các cơ quan có thâm quyền thường là tòa án quyết định tuyên bố phá sản. Ngoài ra, phá sản còn được xem là thủ tục pháp lý liên quan đến tổ chức kinh doanh giải quyết tình trạng mắt cân đối và không có khả năng thanh toán.
Heffeman và cộng sự (2005) cho rằng phá sản là tình trạng mà doanh nghiệp rơi vào tình trạng mắt dần khả năng thanh toán, các khoản nợ phải trả vượt quá giá trị tài sản hay tài sản ròng bị âm. Tuy nhiên, khái niệm phá sản của doanh nghiệp nói chung cần được xem xét lại khi áp dụng cho bối cảnh của NHTM. Nếu là một tổ chức doanh nghiệp đơn thuần khác thì khái niệm của Altman (1968); Heffernan và cộng sự (2005) chỉ ra nếu mất khá năng thanh toán kéo dài thì sẽ dẫn đến phá sản. Nhưng đối với các NHTM thì khác nhau vì tổ chức này hoạt động trong lĩnh vực tài chính và kinh doanh tiền tệ, đồng thời với vai trò là trung gian tài chính cho các đối tượng của cả nền kinh tế, do đó hoạt động kinh doanh tại ngân hàng rất nhạy cảm và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế hay các đối tượng trong đó.
Vì vậy, khi một ngân hang roi vao tinh trang mat khả năng thanh toán sẽ làm hiệu ứng lan truyền đến cả các ngân hàng khác (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Chính vì vậy Chính phủ và NHNN sẽ phải kiểm soát rất chặt chẽ đến HĐKD của ngân hàng nhằm tạo sự ổn định của hệ thống tiền tệ và hạn chế khủng hoảng, do đó đối với các ngân hàng thì trường hợp xảy ra khủng hoảng thì các đơn vị quản lý phải ra sức thực hiện các biện pháp khác nhau để đưa ngân hàng thoát khỏi tình cảnh khó khăn, tình huống xấu nhất cuối cùng mới là phá sản thực sự xảy ra. Martin (1998) khi nghiên cứu về các NHTM thì cho rằng phá sản tại tổ chức này thực 9 sự diễn ra khi giá trị tài sản ròng bị âm, nếu tiếp tục hoạt động thì dẫn tới thiệt hại chồng chất cho ngân hàng cũng như các đối tượng liên quan. Nhưng hầu hết các rủi ro của ngân hàng sẽ được các đơn vị chức năng tầm Chính phủ hoặc Ngân hàng Trung ương giải quyết bằng những cách không để phá sản theo nghĩa hợp pháp.
Khi đó, hoạt động giám sát hay sáp nhập ngân hảng đó vào một ngân hàng mạnh hơn theo ý kiến của cơ quan quan ly, được áp dung thường xuyên hơn là tuyên bó phá sản. Kaufman va Cato (1996) cũng cho rằng một NHTM bị đánh giá thấp trên thị trường, giá trị tài sản giảm thấp hơn giá trị phải trả nợ cho các đối tượng liên quan vì vậy giá trị ròng của NHTM âm. Vào lúc này các ngân hàng sẽ không thể trả được các khoản tiền gửi huy động cho khách hàng hay được gọi là mắt dần khả năng thanh toán. Nhưng các ngân hàng không nộp đơn xin phá sản, mà các cơ quan có chức năng quản lý sẽ tiến hành biện pháp buộc phải sáp nhập, nhằm kiểm soát rủi ro lan rộng.
Tóm lại, tại luận văn này thì phá sản của ngân hàng theo hai khía cạnh. Xét khía cạnh hep thì khi ngân hàng không thể thanh toán được các khoản nợ đến han bang nguén vốn tự có của mình và nộp đơn đến cơ quan chức năng xin phá sản. Theo khía cạnh rộng thì khi ngân hàng bị các ngân hàng khác mạnh hơn mua lại, sắp nhập hay chỉ định sáp nhập từ cơ quan chức năng thì đây được xem là sự phá sản. Rủi ro phá sản tại ngân hàng thương mại Rủi ro phá sản hay nguy cơ phá sản là hàm ý tổng hợp các bắt trắc, rủi ro của ngân hàng diễn ra liên tục làm cho ngân hàng mắt khả năng thanh toán, suy giảm hoạt động, giá trị ròng âm và buộc đối mặt sự đóng cửa.
Shaffer (2012) cho rằng các ngân hàng gặp rủi ro phá sản hay nguy cơ thất bại khi tập hợp các rủi ro cùng một lúc. tăng giảm rủi ro này bằng cách điều chỉnh các nhân tố rủi ro trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản hay rủi ro hoạt động. Nguyễn Thành Dương (2013) cho rằng khi ngân hàng bị giảm đi nguồn thu nhập, các chỉ phí tăng thêm sẽ dẫn đến thâm hụt vốn, dân dần đi đến tình trạng khánh kiệt và phải 10 đối mặt với rủi ro cao dẫn đến phá sản. Phạm Tiên Đạt (2013) cho rằng rủi ro phá sản của ngân hàng khi không đủ VCSH để bi dap cho sự sụt giâm đột ngột giá trị tài sản từ hậu quả đến từ nhiều loại rủi ro khác, nguyên nhân đến từ năng lực quản lý yếu kém, các khoản vay không thu hồi được, các hoạt động đầu tư thiếu hiệu quả hay thua lỗ, suy thoái kinh tế.