CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 1. Một số khái niệm có liên quan hiệu quả hoạt động của ngân hàng 1. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong kinh tế học, hiệu quả kinh tế là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Một hệ thống kinh tế được cho là hiệu quả hơn (một cách tương đối) nếu nó có thể cung cấp thêm hàng hóa và dịch vụ cho xã hội mà không sử dụng nhiều tài nguyên hơn.
Trong điều kiện tuyệt đối, một tình huống có thể được gọi là hiệu quả kinh tế nếu: − Không ai có thể thực hiện được tốt hơn mà không làm cho người khác tệ đi (thường được gọi là hiệu quả Pareto). − Không có sản lượng bổ sung có thể thu được mà không làm tăng số lượng đầu vào. − Chi phí sản xuất mỗi đơn vị thấp nhất có thể. Hiệu quả đo lường về sự thích hợp của các mục tiêu được chọn (đó có phải là những mục tiêu đúng không) và mức độ chúng được thực hiện.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản hiệu quả là làm đúng việc (do the right thing), việc xác định đúng mục tiêu sẽ làm cho tổ chức đi đúng hướng. Các tổ chức sẽ đạt được kết quả tốt hơn khi các nhà quản trị xác định được mục tiêu đúng và hoàn thành chúng. Vì vậy hiệu quả chính là phép so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đúng đắn đã đặt ra : Kết quả đạt được Hiệu quả = (1) Mục tiêu Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Trong hoạt động của các NHTM, theo Nguyễn Việt Hùng (2008) hiệu quả được hiểu qua 2 khía cạnh sau: 6 − Khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra, hay khả năng sinh lời, hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.
− Xác suất hoạt động an toàn của các ngân hàng. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, có vai trò, chức năng đặc biệt trong nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường, đánh giá trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là hiệu quả hoạt động.
Hiệu quả hoạt động ngân hàng có thể được xem là kết quả về lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Trên một bình diện kinh tế xã hội rộng hơn, thay cho hiệu quả là khái niệm hiệu năng. Hiệu năng hoạt động ngân hàng là những đóng góp, những giá trị kinh tế xã hội mà hoạt động ngân hàng mang lại cho cộng đồng và cho cả ngân hàng, trong đó giá trị phúc lợi xã hội, thông qua việc phát huy vai trò, chức năng của hệ thống NHTM trong nền kinh tế. Sự lành mạnh của hệ thống NHTM quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì NHTM là trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế.
Do vậy sự bất ổn của hệ thống NHTM sẽ tác động rất lớn đến các ngành nghề kinh tế khác nói riêng cũng như cả nền kinh tế nói chung. Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và của hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói riêng, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một tổ chức là những gì mà tổ chức đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của tổ chức. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một tổ chức có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần,.
và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm,. Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của tổ chức. Trong khi đó, công thức (1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và mục tiêu để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị.
Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu 7 ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường đó là đơn vị tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả. Như vậy ở đây chúng ta thấy nếu tổ chức đạt được mục tiêu đã đặt ra nhưng với chi phí quá cao thì cũng không đạt được thành công. Trong kinh tế học với quan niệm nguồn lực các yếu tố đầu vào là hữu hạn do đó phải có sự đánh đổi (trade- off), vì vậy không phải chỉ làm đúng việc mà còn phải làm đúng cách, tức là phải đạt được cả hiệu quả (đạt mục tiêu) với phí tổn thấp nhất (hiệu suất).
Như vậy chúng ta có thêm khái niệm hiệu suất (efficiency) : Kết quả đạt được Hiệu suất = (2) Chi phí Như vậy để đo lường hiệu quả thì chúng ta phải căn cứ vào các chỉ tiêu thể hiện hiệu suất. Đó là nội dung được trình bày ở phần tiếp theo. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, hiệu suất hoạt động của ngân hàng được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: Theo Peter S. Rose (2004), về mặt lý thuyết, giá trị thị trường (hay thị giá) của cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với công ty đó.
Tuy nhiên chỉ số này thường không đáng tin cậy trong lĩnh vực ngân hàng. Lý do ở đây là hầu hết cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ không được giao dịch tích cực trên thị trường quốc tế cũng như thị trường trong nước. Thực tế này buộc các nhà phân tích tài chính phải sử dụng các tỷ lệ về khả năng sinh lời để thay thế cho chỉ số giá trị thị trường. Đầu tiên trong nhóm các tỷ số về khả năng sinh lời là ROA.
ROA là tỷ số thu nhập ròng trên tài sản (Return on total assets). ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Công thức tính của tỷ số này là: Thu nhập ròng dành cho cổ đông thường ROA = (3) Tổng tài sản 8 ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). Tài sản của một ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu.
Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn, hay nói cách khác là kết quả cao hơn trên chi phí ít hơn. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà ngân hàng phải trả cho các khoản vay nợ.
Nếu một ngân hàng không kiếm được nhiều hơn số tiền mà họ đã chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay, chi phí huy động vốn thì có nghĩa là ngân hàng đang bỏ túi một món hời. Bên cạnh tỷ số ROA, chúng ta còn có một hệ số doanh lợi khác thể hiện hiệu suất hoạt động của ngân hàng là ROE. ROE là tỷ số thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common equity).
ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường. Tỷ số này được tính bằng công thức: Thu nhập ròng dành cho cổ đông thường ROE = (4) Vốn cổ phần thường Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của ngân hàng nào. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô.
Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau: 9 − ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất huy động của ngân hàng, vậy nếu ngân hàng có khoản vay nợ tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi.