Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng Theo Philip Kotler (2001), “sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm nhận của một người khi kết quả thu được từ việc tiêu dùng một sản phẩm/dịch vụ được so sánh với mong đợi của chính họ. Sự hài lòng được đo bằng sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, khách hàng không hài lòng nếu kết quả thực tế thấp hơn mong đợi và khách hàng không hài lòng nếu kết quả thực tế đáp ứng mong đợi. Sự hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn mong đợi, khách hàng rất hài lòng.
Kỳ vọng của khách hàng đến từ trải nghiệm mua sắm, bạn bè và đồng nghiệp cũng như thông tin về người bán và đối thủ cạnh tranh. Để tăng sự hài lòng của khách hàng, doanh nghiệp cần đầu tư thêm, ít nhất là vào các chương trình tiếp thị nhiều hơn”. Theo Kurt và Clow (1998), “sự hài lòng của khách hàng là trạng thái cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ so với mong đợi. Có thể chia kỳ vọng của khách hàng thành ba mức: Lý tưởng - Kỳ vọng - Thích hợp, và phù hợp là mức thấp nhất mà khách hàng có thể chấp nhận được.
Hai miền kỳ vọng là miền tiếp nhận (nằm giữa hai mức độ mong đợi và phù hợp) và miền dự đoán (từ phù hợp đến lý tưởng) nên sự hài lòng của khách hàng sẽ phụ thuộc vào khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ cảm nhận và mong đợi. Tỷ lệ giữa mức chất lượng cảm nhận của khách hàng với giá trị mong đợi sẽ ảnh hưởng đến tình trạng của khách hàng. Đặc biệt, khách hàng có thể ở các trạng thái khác nhau khi chất lượng ở mức mong muốn, phấn khích khi chất lượng ở mức lý tưởng và tức giận khi chất lượng thấp hơn nhiều so với mức phù hợp”. Theo Nguyễn Thanh Liêm (2012), “Khách hàng là những cá nhân hoặc tổ chức sử dụng sản phẩm và dịch vụ của các nhà cung cấp.
Trong kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ trên thị trường được quyết định bời sự hài lòng của khách hàng. Với tầm quan trọng của sự hài lòng trong kinh doanh, nhiều nhà khoa học đã dành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu về lĩnh vực này. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất được khái niệm và định nghĩa chung cho sự hài lòng hay sự thỏa mãn của khách hàng”. Theo Tse & Wilton (1988), “sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó và thế hiện thực sự 4 của sản phẩm sau khi dùng nó.
Như vậy, có thể thấy sự hài lòng tùy thuộc vào hiệu quả hoặc lợi ý sản phẩm, dịch vụ mang lại so với những gì họ kỳ vọng”. Theo Hansemark & Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn”. Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng cũng như có khá nhiều tranh luận về định nghĩa này. Tóm lại, khái quát chung nhất, chỉ số hài lòng khách hàng là sự đo lường mức độ cảm nhận được của một người thông qua việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó.2 Khái niệm về tín dụng và dịch vụ tín dụng Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà sử học và kinh tế học, hoạt động vay mượn hay cho vay lấy lãi đã tồn tại từ trước công nguyên.
Thậm chí, hoạt động tín dụng xuất hiện trước sự ra đời của các ngân hàng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát gốc từ La tinh tức là sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo Tiếng Việt nghĩ là sự vay mượn dựa trên sự tin tưởng và tín nhiệm giữa hai bên. Tín dụng được hiểu là mối quan hệ tài chính giữa hai bên, trong đó một bên cung cấp vốn cho bên kia với lời hứa về các khoản hoàn trả trong tương lai hoặc định kỳ với tỷ lệ định trước.
Cho phép bên nhận tiền thực hiện các kế hoạch tài chính của họ và bên cung cấp tiền mong muốn lấy lại và kiếm được lợi nhuận từ khoản vay của họ. Các điều khoản và điều kiện trong lĩnh vực quan hệ tín dụng thường được quy định trong hợp đồng giữa hai bên. Các loại tín dụng phổ biến bao gồm: vay ngân hàng, tín dụng kinh doanh, thẻ tín dụng và vay cá nhân. Theo Lê Thị Thu Thủy (2005), khái niệm tín dụng có thể được tiếp nhận từ nhiều góc độ khác nhau: Tín dụng là việc trao đổi tài sản hiện tại lấy tài sản tương lai.
Tín dụng là quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn mà giá cả là lãi suất. Tín dụng là quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn và giá cả là lãi suất 5 Tín dụng là quan hệ kinh tế trong đó người này đồng ý cho người khác sử dụng Tiền hoặc tài sản của bạn có điều kiện được trả lại trong một khoảng thời gian nhất định vốn và lợi nhuận. Một cách khái quát nhất, khái niệm tín dụng theo Luật Ngân hàng Việt Nam quy định: “Tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên sự tin tưởng và tín nhiệm lẫn nhau. Người cho vay và người đi vay.
Vì vậy, người cho vay chuyển một lượng vốn tiền tệ nhất định (hoặc Tài sản) cho mục đích sử dụng rõ ràng của Bên vay. Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả, thanh toán vốn (tài sản) ban đầu và tiền lãi”.1 Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng, bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau, vì vậy không có một định nghĩa hoàn toàn chính xác nào về dịch vụ, có nhiều khái niệm được đưa ra như sau: Theo Kotler & Armstrong (2004), “dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng”. Theo Zeithaml & Britner (2000), “dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Theo từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ (tái bản 2010), “dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”.2 Bản chất của dịch vụ Theo Philip Kotler, “dịch vụ (DV) là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chỉ thực hiện vì mục đích của khách hàng, không có sự chuyển giao quyền sở hữu vật chất và có thể không sản xuất bất kỳ sản phẩm hay thành công vật chất.
Bản chất của dịch vụ là sự cung cấp giá trị cho khách hàng thông qua các hoạt động và lợi ích mà dịch vụ đó mang lại. Dịch vụ tập trung vào nhu cầu của khách hàng và chiến lược của doanh nghiệp là phải đáp ứng và vượt qua mong muốn của khách hàng đó. Dịch vụ có thể đóng vai trò 6 quan trọng trong việc phát triển và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hoặc ngành công nghiệp.” “Dịch vụ là những hoạt động, quy trình hoặc lợi ích được cung cấp cho khách hàng để giải quyết một nhu cầu hoặc mong muốn nhất định của họ mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu vật chất. Dịch vụ đó tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cung cấp giá trị cho khách hàng và thường liên quan đến các hoạt động trực tiếp liên quan đến con người.
Bản chất của dịch vụ là giải pháp giúp khách hàng giải quyết vấn đề hoặc đáp ứng nhu cầu của họ.3 Đặc điểm của dịch vụ “Dựa vào các khái niệm về dịch vụ, người ta có thể rút ra 5 đặc điểm chính của dịch vụ bao gồm: tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không thể cất giữ, tính đa dạng và tính không chuyển quyền sở hữu được. - Tính vô hình Đầu tiên, khi nghĩ về các đặc điểm của dịch vụ, tính vô hình có thể xuất hiện trong đầu bạn. Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa là các dịch vụ không thể được nhìn thấy, nếm, cảm nhận, nghe hoặc ngửi trước khi chúng được mua. Bạn không thể thử chúng.
Chẳng hạn, hành khách của hãng hàng không không có gì ngoài một vé và một lời hứa rằng họ sẽ đến vào một thời điểm nhất định tại một điểm đến nhất định. Nhưng không có gì có thể chạm vào. - Tính không thể tách rời “Đặc điểm của dịch vụ bao gồm không thể tách rời, có nghĩa là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Điều này cũng đòi hỏi rằng các dịch vụ không thể tách rời khỏi các nhà cung cấp của họ.
Trái với các dịch vụ, hàng hóa vật chất được sản xuất, sau đó được lưu trữ, sau đó được bán và thậm chí sau đó được tiêu thụ. Dịch vụ được bán đầu tiên, sau đó được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. Một sản phẩm có thể, sau khi sản xuất, được lấy đi từ nhà sản xuất. Tuy nhiên, một dịch vụ được sản xuất tại hoặc gần điểm mua hàng” (Nguyễn Khánh Chi, 2018) - Tính không thể cất giữ “Nhà cung cấp dịch vụ không thể cất trữ lưu kho dịch vụ như hàng hóa nhưng cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo.
Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian 7 nó được cung cấp. Do vây, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho lưu trữ, khi có nhu cầu mới đem ra bán được.” (Nguyễn Khánh Chi, 2018) Dịch vụ không thể được lưu trữ để bán hoặc sử dụng sau này. Nói cách khác, dịch vụ không thể được kiểm kê. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ, vì nó có thể có tác động lớn đến kết quả tài chính.
- Tính đa dạng Sự thay đổi cũng thuộc về các đặc điểm quan trọng của dịch vụ.