Chương 1 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1-Lược khảo các tài liệu đã nghiên cứu trước : 1.1-Trong nước : Trong nước đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả hay phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của ngành khai thác hải sản như : TS.Nguyễn Thị Kim Anh và CT (2006) “Doanh thu và chi phí của nghề khai thác lưới rê thu ngừ tại Nha Trang”, Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 03- 04/2006,-Trường Đại học Nha Trang. Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, để phân tích doanh thu và chi phí giữa các nhóm tàu (theo chiều dài), làm nghề lưới rê Thu Ngừ, tại 2 phường Vĩnh Phước và Xuân Huân – TP. Nghiên cứu này đã bước đầu cung cấp những thông tin về những chỉ tiêu kinh tế nghề lưới rê thu ngừ tại thành phố Nha Trang. Nghiên cứu đã chỉ ra tàu chiều dài càng lớn với vốn đầu tư cao có lợi nhuận càng thấp, nguyên nhân do doanh thu đội tàu có chiều dài lớn cao hơn không nhiều, trong khi đó chi phí thì rất cao so với đội tàu có chiều dài nhỏ.
Đây là một yếu tố kỹ thuật tác động lên doanh thu và lợi nhuận của tàu, cần quan tâm đối với những nghiên cứu này. Phạm Thị Thanh Thủy và CT (2007) “Doanh thu và chi phí nghề lưới vây tại Nha Trang và Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam”, Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 01/2007, Trường Đại học Nha Trang. Nghiên cứu dùng phương pháp phân tích thống kê, để đưa ra các chỉ số dùng để mô tả các đặc trưng kinh tế, các thông số kỹ thuật của các tàu lưới vây, đồng thời phân tích hiệu quả tài chính của nghề, dựa trên tiêu chí khác nhau về công suất giữa 2 nhóm tàu lưới vây rút thưa và vây trũ rút, tại Nha Trang và Cam Ranh, để từ đó xác định cơ cấu đầu tư hợp lý cho nghề này. Nghiên cứu chỉ ra ở Cam Ranh, theo dữ liệu điều tra đuợc với nghề vây rút thưa, nhóm công suất 75 - 90 cv mang lại hiệu quả tài chính cao nhất; với nghề vây trũ rút, nhóm công suất 45-74 cv mang lại hiệu quả tài chính cao nhất.
Riêng nghề vây trũ rút Nha Trang, do dặc thù phuong pháp đánh bắt, dải công suất có hiệu quả tài chính khá cao là 75-90 cv. Vậy hiệu quả hoạt động chịu tác động của yếu tố công suất tàu đối với nghề lưới vây ở 2 địa phương trên. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 20 Nguyễn Tuấn và CT (2007) “Phân tích một số nhân tố tác động đến doanh thu nghề lưới rê thu ngừ tại Nha Trang”, Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 01/2007, Trường Đại học Nha Trang.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tương quan tuyến tính đa biến một cách chi tiết để phân tích các yếu tố ảnh hưởng, đồng thời tìm ra yếu tố tác động mạnh nhất tới doanh thu, (Chiều dài tàu, đặc điểm ngư cụ khai thác, đầu tư trang thiết bị và tuổi của tàu), để từ đó để xuất các giải pháp cụ thể. Tác giả đưa ra 2 mô hình nghiên cứu để ước lượng doanh thu, kết quả đã chỉ ra rằng : chiều dài tàu có ảnh huởng đáng kể đến sự thay đổi của doanh thu. Tàu có doanh thu thấp nhất là nhóm tàu có chiều dài 16,86 m và 16,90 m. Ðiều này có thể giải thích là do đội tàu luới rê thu ngừ chủ yếu khai thác ở 2 ngư truờng: Việt Nam và hải phận quốc tế.
Với ngư trường Việt Nam có mật độ tàu lớn, ngư truờng rất chật hẹp, tàu có chiều dài nhỏ sẽ linh hoạt hơn trong khai thác, do vậy với các tàu có chiều dài nhỏ hon 16,86 - 16,90 m thì tàu càng nhỏ, sẽ dễ dàng hoạt động tạo ra doanh thu càng lớn; nguợc lại, khi tàu khai thác ngư truờng quốc tế, với khoảng cách rất xa, thời gian di chuyển đến ngư truờng dài nên đòi hỏi năng lực chuyên chở lớn, do vậy, các tàu có chiều dài càng lớn bám biển càng dài ngày, hoạt động sẽ hiệu quả hơn, tạo ra doanh thu càng lớn. Tuổi của tàu có ảnh huởng đến doanh thu trong cả 2 mô hình, nhưng ảnh huởng này rất nhỏ. Các yếu tố được đề cặp đến là chiều dài tàu và tuổi tàu có tác động đến doanh thu. Phạm Thị Dung (2007) “Hiệu quả kinh doanh của nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Phú Yên”, Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 02/2007, Trường Đại học Nha Trang.
Đề tài thực hiện phương pháp phân tích thống kê và dựa trên kết quả khảo sát phân tích các chỉ tiêu, để so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các nhóm tàu câu cá ngừ đại dương ở Phú Yên qua các năm, nhằm xem xét các vấn đề nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đưa ra các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động kinh doanh của tàu câu tỉnh Phú Yên, như DT/ VÐT, GTGT/ VÐT, GF/ CPHÐ, GTGT/ CPHÐ, GTGT/ DT … Nếu xem xét về mức độ hiệu quả của đầu tư thì các tàu càng lớn thì hiệu quả vốn đầu tư càng thấp. Tóm lại, các tàu lớn có vốn đầu tư lớn nhưng kiệu quả không cao, các tàu thuộc dải công suất từ 90 – 140 cv được xem là hoạt động có hiệu quả hơn 2 dải công suất còn lại (45-89 và trên 140 cv). Tuy nhiên hiện chênh lệch về hiệu quả giữa 2 dải công suất 90 – 140 cv và trên 140 cv là không nhiều.
Với kết quả này, yếu tố được xét đến là công suất tàu đã có tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 21 Lê Kim Long và CT (2008), “Economic performance of open-access offshore fisheries - The case of Vietnamese longliners in the South China Sea”, Fisheries Research 93 (2008). Với phương pháp phân tích mô tả và phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính, kết quả nghiên cứu những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của tàu câu cá ngừ xa bờ, yếu tố được quan tâm phân tích trong 2 mô hình nghiên cứu gồm : thu nhập (doanh thu) hàng năm là biến phụ thuộc, còn các yếu tố như chiều dài tàu, thời gian hoạt động, số lao động trên tàu, sản lượng là các biến độc lập.
Từ đó đề ra một số giải pháp cải thiện hiệu quả sản xuất của nghề câu cá ngừ đại dương. Kết quả là các yếu tố đưa vào mô hình đều có tác động đến doanh thu và thu nhập của tàu. Tuy mỗi yếu tố có cường độ và qui luật quan hệ với doanh thu khác nhau, nhưng điều này cho thấy đây là cơ sở cho các nghiên cứu sau này. Nguyễn Xuân Trường (2009), “Technical efficiency of the gillnet fishery in Da Nang, Viet Nam : An application of a stochastic production frontier”.
Nghiên cứu đã phân tích mối tương quan giữa các yếu tố kỹ thuật và hiệu quả hoạt động của các tàu (mẫu được lựa chọn) làm nghề lưới rê ở Đà Nẳng. Từ đó, nghiên cứu xác định mức độ tác động của các yếu tố đến doanh thu của tàu. Kết quả là các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của tàu lưới rê ở Đà Nẵng. Cao Thị Hồng Nga (2009), “A study on economic efficiency of the offshore long line fishery in Khanh Hoa province, Viet Nam”.
Tác giả sử dụng một số mô hình kinh tế vi mô hoặc của các nghiên cứu trước đây, áp dụng vào đề tài để phân tích, đánh giá và kiểm định mối tương quan giữa các yếu tố kỹ thuật (công suất tàu, chiều dài tàu và số ngày hoạt động đánh bắt) và sản lượng khai thác (trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng doanh thu là biến phụ thuộc, thay thế cho sản lượng khai thác) đưa vào mô hình nghiên cứu hiệu quả kinh tế của đội tàu xa bờ, làm nghề câu vàng tại tỉnh Khánh Hòa. Các yếu tố đưa vào mô hình phân tích đều có ảnh hưởng đến doanh thu, cho thấy có thể là cơ sở lý thuyết cho những nghiên cứu về hiệu quả tàu cá cho các đề tài tiếp theo. Nguyễn Ngọc Duy (2010) “On the economic performance and efficiency of gillnet vessel in Nha Trang, Viet Nam”. Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của đội tàu lưới Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only.
22 rê tại Nha Trang, trong đó các yếu tố được quan tâm như công suất tàu, lưới cụ, thời gian hoạt động được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề này. Phùng Giang Hải (2006) Đại Học Kinh Tế - thành phố Hồ Chí Minh “Hiệu quả kinh tế ngành khai thác hải sản tỉnh Cà Mau : Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp phát triển”. Chủ yếu tác giả dựa trên phương pháp phân tích thống kê và tính toán nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của ngành khai thác hải sản. Một mô hình kinh tế luợng dựa trên cơ sở hàm sản xuất Cobb-Douglas đuợc xây dựng, nhằm xác định các yếu tố chính tác động đến hiệu quả kinh tế của ngành khai thác hải sản.
Đồng thời, nghiên cứu này cũng xác định mối tương quan và mức độ tác động của các yếu tố, đối với biến số đuợc nghiên cứu là hiệu quả kinh tế. Để trên cơ sở này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp và các chính sách với mục tiêu phát triển ngành khai thác hải sản tỉnh Cà Mau một cách bền vững. Với cơ sở lí thuyết như vậy, nghiên cứu sẽ ứng dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas: Thu nhập ròng (trong nghiên cứu này được hiểu là lợi nhuận ròng - P) là biến phụ thuộc, còn các biến độc lập: giá trị tài sản khai thác hải sản, bao gồm giá trị tàu thuyền khai thác, ngư lưới cụ và các trang thiết bị khác phục vụ cho khai thác hải sản; trình độ lao động sản xuất bao gồm các yếu tố trình độ văn hoá của ngư dân, số năm kinh nghiệm đi biển và trình độ được huấn luyện/tập huấn về khai thác hải sản; Chi phí sản xuất; vốn vay.