CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Theo các nghiên cứu trước đây, khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài. Nhân tố bên trong là Nhân tố tạo ra từ bên trong ngân hàng (bảng cân đối, tài khoản doanh thu hay chi phí) .Nhân tố bên ngoài là nhân tố không liên quan tới khả năng quản lý nhưng phản ánh môi trường pháp lý, kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng chia thành hai loại đó là các nhân tố vi mô và các nhân tố vĩ mô. Nhân tố vi mô có thể kiểm soát được bởi các nhà quản trị ngân hàng, các nhân tố này thể hiện trên các khoản mục trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Các nhân tố này thường được khảo sát là quy mô, vốn chủ sở hữu, tiền gửi, tỷ lệ khoản vay, thanh khoản, chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, hình thức sở hữu, tăng trưởng tiền gửi, tiền vay, rủi ro tín dụng, đòn bNy tài chính, tỷ lệ an toàn vốn. Biến bên ngoài là những nhân tố vĩ mô vượt ra ngoài sự kiểm soát của các nhà quản trị ngân hàng. Các nhân tố vĩ mô bên ngoài được thảo luận nghiên cứu rộng rãi bao gồm: thị phần ngân hàng, lãi suất, lạm phát, tăng trưởng GDP, GDP thực, tỷ giá, vốn hóa thị trường, mức độ tập trung của thị trường. Những nhân tố phổ biến ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng nêu trên được sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu khác nhau đáng kể do sự biến đổi của môi trường và các dữ liệu được đưa vào phân tích.1 Các nghiên cứu về nhóm nhân tố vi mô Về khái niệm khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, Peter S. Rose (2002) trình bày khái niệm về lợi nhuận ngân hàng rằng các ngân hàng về cơ bản đạt được lợi nhuận từ hoạt động cho vay thông qua sự khác biệt giữa lãi suất trả cho người gửi tiền và lãi suất nhận được từ khách hàng vay. Thêm vào đó thu từ các khoản đầu tư chứng khoán, tiền gửi hưởng lãi tại các ngân hàng khác và các tài sản 5 có sinh lời khác. Những khoản chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra nguồn thu trên bao gồm tiền lãi trả cho những khoản vay, chi phí vốn tự có, tiền lương và phúc lợi trả cho nhân viên, chi phí hoạt động liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tín dụng, thuế và những chi phí khác.
Chênh lệch giữa các khoản thu và chi phí trên là lợi nhuận của ngân hàng.Rose (2002) thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần và thu hút vốn đầu tư.Rose (2002) nêu ra các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay và cũng có giải thích ý nghĩa các tỷ lệ này. Các tỷ lệ được sử dụng rộng rãi gồm: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), ROA là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả của quản lý. Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng. Nếu ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả hoạt động hữu hiệu, cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng ( tức là đầu tư chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Về các nhân tố ảnh hướng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, có rất nhiều nghiên cứu tìm cách xác định các nhân tố quyết định khả năng sinh lời của ngân hàng. Short (1979) và Bourke (1989) cung cấp các nghiên cứu đầu tiên về khả năng sinh lời của ngân hàng. Sau đó, có rất nhiều nghiên cứu tiếp theo, một số nghiên cứu tập trung vào một quốc gia cụ thể như Guru và ctg (2002) tại Malaysia, Bennaceur và Goaied (2008) tại Tunisia, Vong và Chan (2009) tại Macao, Jiang và 6 ctg (2003) tại HongKong, Davydenko (2011) tại Ukraine.
và một số nghiên cứu khác khảo sát ở nhiều quốc gia Molyneux và Thornton (1992), Abreu và Mendes (2003) tại các nước châu Âu, Dermirguc- Kunt và Huizinga (1999) sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia trên thế giới, Flamini và ctg (2009) tại 41 quốc gia thuộc khu vực châu Phi cận Sahara. Hầu hết các nghiên cứu trước đây cho dù thực hiện ở một quốc gia hay đa quốc gia đều sử dụng các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi như ROA, ROE như biến phụ thuộc để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2022) đã sử dụng mô hình hồi quy OLS với biến phụ thuộc là ROA và các biến độc lập là quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, chỉ số giá tiêu dùng và hình thức sở hữu để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Bộ dữ liệu được nhóm tác giả thu thập trên cơ sở báo cáo tài chính được kiểm toán đã được công bố tại website của 24 NHTM niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2017- 2020. Kết quả định lượng cho thấy tỷ lệ nợ xấu và lạm phát không có ý nghĩa thống kê.
Quy mô ngân hàng có tác động thuận chiều với ROA, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và hình thức sở hữu tác động ngược chiều với ROA. Lê Đồng Duy Trung (2020) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của 30 NHTM bao gồm 04 NHTM cổ phần có vốn nhà nước chi phối, 25 NHTM cổ phần tư nhân trong nước và 01 NHTM nước ngoài (ShinhanBank Việt Nam). Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính hàng năm của các NHTM trên trong giai đoạn từ 2009-2017. Tác giả đã ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến cả ROA và ROE.
Kết quả ước lượng cho thấy quy mô tổng tài sản tác động dương đến ROA có ý nghĩa thống kê tại mức 1%, tuy nhiên tác động này không có ý nghĩa thống kê với ROE. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động dương đến ROA nhưng tác động âm đến ROE, thu nhập lãi cận biên tác động dương đến cả ROA và ROE, tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi khách hàng tác động âm đến ROA nhưng không có ý nghĩa thống kê với ROE. Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ chi phí hoạt động tác động âm đến cả ROA và ROE. Tỷ lệ tập trung thị trường tác động âm tới ROA nhưng tác động dương đến ROE.
Tốc độ tăng trưởng cung tiền có tác động dương 7 đến ROA trong khi không có ý nghĩa thống kê với ROE. Tỷ lệ lạm phát tác động dương đối với cả ROA và ROE. Nguyễn Thu Hiền (2017) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố đặc trưng xác định khả năng sinh lời của NHMT Việt Nam thông qua dữ liệu trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 11 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006- 2015. Phân tích hồi quy bởi mô hình FEM đã được sử dụng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên cho vay, cho vay trên tài sản có tác động cùng chiều với ROA, nợ xấu trên dư nợ cho vay có tác động ngược chiều với ROA, chi phí lãi trên nợ phải trả có quan hệ cùng chiều với ROA, thu nhập phi lãi trên tài sản có quan hệ cùng chiều với ROA, chi phí hoạt động trên thu nhập có quan hệ ngược chiều với ROA. Tóm lại đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM, bao gồm cả các nghiên cứu trong nước. Tác giả lựa chọn ROA là chỉ tiêu đại diện cho khả năng sinh lời. Nghiên cứu của giả có sự khác biệt về phạm vi nghiên cứu (thời gian nghiên cứu và không gian nghiên cứu) so với các nghiên cứu đã được thực hiện.
Một trong những nhân tố phổ biến được đề cập trong các nghiên cứu là Quy mô ngân hàng: Theo Kosmidou và ctg (2005) quy mô ngân hàng thường được nghiên cứu như một nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong hầu hết các tài liệu tài chính, quy mô của ngân hàng được đo bằng tổng tài sản. Bên cạnh đó cũng có một số tác giả sử dụng logarit của tiền gửi và cho vay để đo lường hiệu quả của quy mô. Ngân hàng cỡ lớn có thể đạt được hiệu quả kinh tế quy mô với chi phí giảm hoặc hiệu quả kinh tế trong phạm vi cho vay nhiều hơn và mức độ đa dạng hóa sản phẩm cao hơn có thể tiếp cận những thị trường mà một ngân hàng nhỏ không thể tham gia được.
Ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến khả năng sinh lời của nó không đồng đều. Trong một nghiên cứu của các ngân hàng châu Âu cho giai đoạn năm từ 1992 đến 1998, Goddard và ctg (2004) đã xác định chỉ có mối quan hệ nhỏ giữa quy mô và lợi nhuận. Một số nghiên cứu trước đó có kết quả khác nhau. Smirlock (1985) chứng minh tác động đáng kể và tích cực của quy mô của một ngân hàng về lợi nhuận của nó.