chương 1 tập trung giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu bao gồm: sự cần thiết của đề tài; mục đích nghiên cứu của đề tài và từ đó hình thành nên 5 các câu hỏi nghiên cứu phù hợp; phương pháp nghiên cứu được sử dụng để tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu và những đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ cấu vốn Chương 2 được thực hiện với nội dung chính là cung cấp những nền tảng lý thuyết quan trọng, cần thiết để thực hiện nghiên cứu; những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về cơ cấu vốn trong nước và ở một số quốc gia trên thế giới. Qua đó, một mặt tìm ra những khía cạnh mới của đề tài so với những nghiên cứu trước đây, mặt khác là tạo dựng cơ sở cho việc phân tích dữ liệu, xây dựng các giả thuyết và các biến số của mô hình hồi quy trong chương sau. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu sử dụng Nội dung chính của chương 3 là xây dựng phương pháp nghiên cứu thích hợp để phân tích nguồn dữ liệu là báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết ở SGDCK TPHCM giai đoạn 2009 – 2013.
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng chủ yếu phương pháp định lượng thông qua phân tích thống kê mô tả và phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng. Thông qua phương pháp so sánh dữ liệu thời gian và dữ liệu chéo, phân tích thống kê mô tả về cơ cấu vốn hiện nay của các doanh nghiệp đang niêm yết ở SGDCK TPHCM giúp nhận ra những nét khác biệt giữa cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và cơ cấu vốn ở một số quốc gia phát triển khác. Thêm vào đó, để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra, đề tài đưa ra các biến số phù hợp cùng với những giả thuyết đi kèm dựa trên các lý thuyết về cơ cấu vốn đã được trình bày ở phần trên. Để thực hiện kiểm chứng giả thuyết, mô hình hồi quy dựa trên những biến số này sẽ được sử dụng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này sẽ tiến hành phân tích các kết quả đạt được trên cơ sở áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên, trong đó tập trung vào các nội dung chính: 6 - Đưa ra những phân tích về cơ cấu vốn hiện tại của các doanh nghiệp đang niêm yết ở SGDCK TPHCM và chỉ ra những sự khác biệt giữa cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam với cơ cấu vốn ở các quốc gia phát triển và đang phát triển khác. - Nhận xét những sự khác biệt cơ bản về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp trong một số nhóm ngành điển hình như: công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; kinh doanh bất động sản. - Xem xét sự phù hợp giữa cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản của các doanh nghiệp. - Chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của các doanh nghiệp niêm yết ở SGDCK TPHCM.
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị Thông qua những phân tích kết quả nghiên cứu, nội dung chương 5 tập trung vào việc đưa ra những kết luận chính, một số khuyến nghị nhằm hướng đến việc hỗ trợ các nhà quản trị tài chính trong việc xây dựng cơ cấu vốn phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, một số hạn chế của đề tài cũng được đề cập, từ đó, chỉ ra những hướng nghiên cứu mới phù hợp hơn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CẤU VỐN Chương hai có hai mục tiêu: thứ nhất là chỉ ra sự cần thiết của đề tài và thứ hai là xây dựng cơ sở của mô hình nghiên cứu. Để đạt được hai mục tiêu trên, nội dung chính của chương hai sẽ bao gồm các phần: - Một là, luận văn nêu rõ tầm quan trọng của quyết định tài trợ đối với doanh nghiệp, thông qua đó sẽ cho thấy sự cần thiết trong việc xây dựng một cơ cấu vốn phù hợp với doanh nghiệp.
- Hai là, giới thiệu các lý thuyết quan trọng về cơ cấu vốn gồm: lý thuyết M&M, lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng; khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về cơ cấu vốn. Từ đó, tác giả đã tìm ra những khía cạnh mới của luận văn so với những nghiên cứu trước đây cũng như tạo dựng cơ sở cho mô hình nghiên cứu trong chương sau. Tầm quan trọng của quyết định tài trợ trong doanh nghiệp Mục tiêu cuối cùng của quản trị tài chính trong các doanh nghiệp là gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, điều này được thể hiện thông qua tối đa hóa giá thị trường của cổ phiếu (đối với công ty cổ phần) hoặc tối đa hóa suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (đối với doanh nghiệp không phải là công ty cổ phần) (Frank J. Fabozzi và Pamela P.
Giá thị trường của cổ phiếu gia tăng hoặc suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao hơn là động lực để các chủ sở hữu tiếp tục chấp nhận đầu tư vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc những dự án đầu tư trong tương lai. Để đảm bảo được mục tiêu nói trên, những nhà quản trị cần có các quyết định tài chính thật sự hợp lý và phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện phát triển của doanh nghiệp hướng đến sự gia tăng lợi nhuận nhưng đồng thời duy trì được khả năng thanh toán. Các quyết định tài chính doanh nghiệp thường được phân chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ hay còn gọi là quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận hay chính sách cổ tức (Frank J. Fabozzi và Pamela P.
8 Quyết định đầu tư là những quyết định có liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản, chủ yếu bao gồm các mảng chính: quyết định đầu tư tài sản lưu động, quyết định đầu tư tài sản cố định, quyết định cơ cấu giữa tài sản lưu động và tài sản cố định thông qua đòn bẩy hoạt động hay quyết định điểm hòa vốn. Một doanh nghiệp có thể có nhiều lựa chọn cho quyết định đầu tư của mình, nhưng các nhà quản trị tài chính phải lựa chọn khoản đầu tư phù hợp nhất nhằm tối đa hóa lợi ích cho các chủ sở hữu (Frank J. Fabozzi và Pamela P. Quyết định tài trợ là sự cân nhắc, lựa chọn hợp lý nguồn hình thành nên tài sản.
Quyết định này liên quan đến việc huy động nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả quyết định tài trợ được trình bày ở phần bên phải của bảng cân đối kế toán và sắp xếp theo nguyên tắc tính ổn định tăng dần, bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Mỗi loại nguồn vốn có những đặc điểm khác nhau về tính hoàn trả, trách nhiệm thanh toán, tác động đến thuế và chi phí sử dụng vốn; do đó các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần cân nhắc mối quan hệ giữa các nguồn vốn nhằm xây dựng cơ cấu vốn hợp lý sao cho đảm bảo sự cân bằng lợi nhuận và rủi ro (Frank J. Fabozzi và Pamela P.
Quyết định phân phối lợi nhuận hay chính sách cổ tức tác động trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Cổ tức là nguồn lợi ích hữu hình, thường xuyên mà cổ đông nhận được. Do vậy, chính sách cổ tức ổn định hay biến động thất thường sẽ ảnh hưởng đến sự nhận định của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, từ đó, có thể dẫn đến sự dao động của giá cổ phiếu trên thị trường. Chính sách tài trợ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp.
Thông qua chính sách cổ tức, công ty sẽ quyết định mức độ lợi nhuận giữ lại được sử dụng tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiêp là bao nhiêu, cũng như lựa chọn chính sách đầu tư thích hợp với cơ cấu vốn hiện tại (Frank J. Fabozzi và Pamela P. Cơ cấu vốn Cơ cấu vốn (capital structure) thể hiện mối quan hệ về tỷ trọng giữa các nguồn tài trợ mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. 9 Các nguồn tài trợ của doanh nghiệp bao gồm nợ và vốn chủ sở hữu, trong đó: Nợ ngắn hạn Nợ Nợ dài hạn Cơ cấu vốn Vốn cổ phần thường Vốn chủ sở Vốn cổ phần ưu đãi hữu Lợi nhuận giữ lại Nợ dài hạn 2.
Nợ và phân loại nợ Dưới góc độ tài chính doanh nghiệp, nợ được xem như một nguồn tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể huy động nợ bằng nhiều hình thức khác nhau theo những yêu cầu nhất định trong từng giai đoạn. Phân loại nợ theo thứ tự ưu tiên về thời gian đáo hạn như cách trình bày của bảng cân đối kế toán doanh nghiệp, nợ được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Theo đó, nợ ngắn hạn là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường, bao gồm: tín dụng thương mại, các khoản chiếm dụng về tiền lương, tiền thuế, tín dụng ngắn hạn ngân hàng, các khoản phải trả ngắn hạn khác.
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trên một năm, bao gồm: tín dụng ngân hàng dài hạn, phát hành trái phiếu… Mỗi loại sẽ có những đặc điểm khác nhau về tính hoàn trả, trách nhiệm thanh toán, tác động đến thuế và chi phí sử dụng vốn; do đó các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần cân nhắc, lựa chọn phù hợp, góp phần xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, đảm bảo sự cân bằng lợi nhuận và rủi ro (Ngô Kim Phượng và ctg 2009). Cơ cấu vốn tối ưu Cơ cấu vốn tối ưu (optimal capital structure) là cơ cấu vốn giúp tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Cơ cấu vốn tối ưu cũng là cơ cấu vốn giúp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp (weighted average cost of capital - WACC) (Frank J. Fabozzi và Pamela P.
10 Các quyết định tài trợ khác nhau sẽ có những ảnh hưởng khác nhau lên WACC. WACC được tính bằng trung bình có trọng số của chi phí vốn chủ sở hữu (the cost of equity) và chi phí sử dụng nợ. Do vậy, khi công ty thay đổi cơ cấu vốn sẽ dẫn đến sự thay đổi của WACC.