CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VÀ THỰC TIỄN NHẬN THỨC VỀ CƠ HỘI TỪ QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Hệ thống khái niệm có liên quan 1. Khái niệm nhận thức 1. Khái niệm biến đổi khí hậu 1.
Khái niệm phát triển bền vững 1. Ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ vào phát triển bền vững Đồng bằng Sông Cửu Long, thích ứng với biến đổi khí hậu 1. Cơ hội từ quá trình chuyển đổi nhằm phát triển bền vững Đồng bằng Sông Cửu Long, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ 1. Hệ thống lý thuyết 1.
Cơ sở chính trị và pháp lý 1. Quan điểm và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước 1. Hiến pháp, quy phạm pháp luật CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỀ CƠ HỘI TỪ QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 25 2. Thực trạng nhận thức và hiểu biết của người dân đồng bằng Sông Cửu Long về cơ hội phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện nay 2.
Thống kê phân tích thực trạng CHƯƠNG 3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CƠ HỘI TỪ QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN NAY 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về cơ hội từ quá trình chuyển đổi nhằm phát triển bền vững đồng bằng Sông Cửu Long, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện nay 3. Thống kê phân tích các yếu tố ảnh hưởng CHƯƠNG 4.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 4. Các đề xuất rút ra từ kết quả nghiên cứu 4. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 26 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VÀ THỰC TIỄN NHẬN THỨC VỀ CƠ HỘI TỪ QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU THÔNG QUA ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Hệ thống khái niệm có liên quan 1.
Khái niệm nhận thức Quá trình nhận thức giúp cho chúng ta phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan – những khách thể tác động vào con người trong quá trình hoạt động của họ. Nhờ nhận thức mà con người có xúc cảm, tình cảm, đặt ra được mục đích và dựa vào đó mà hành động. Như vậy, quá trình nhận thức xuất phát từ hành động, làm tiền đề cho các quá trình tâm lý khác. Đồng thời tính chân thực của quá trình nhận thức cũng được kiểm nghiệm qua hành động: hành động có kết quả chứng tỏ chúng ta phản ánh đúng hành động, không có kết quả chứng tỏ ta phản ánh sai.
Nhờ quá trình nhận thức, chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta, mà cả hiện thực của bản thân ta nữa, không chỉ phản ánh cái bên ngoài mà cả cái bản chất bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cả cái sẽ tới, cái quy luật phát triển của hiện thực nữa. Như thế có nghĩa là quá trình nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, ở những mức độ phản ánh khác nhau: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Những quá trình này sẽ cho chúng ta những sản phẩm khác nhau, còn gọi là những cấu tạo tâm lý khác nhau (hình tượng, biểu tượng, khái niệm). Đại thể có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành 2 giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính (gồm cảm giác và tri giác) và nhận thức lý tính.
Trong hoạt động nhận thức của con người, giai đoạn cảm tính và lý tính có quan hệ chặt chẽ và tác động tương hỗ lẫn nhau.Lênin đã tổng kết quy luật đó của hoạt động nhận thức nói chung như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.3: Quá trình nhận thức riêng từ thấp đến cao (Nguồn: lytuong.net) - Một số quan điểm về nhận thức: o Quan điểm duy tâm: Không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không thừa nhận nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan. Duy tâm chủ quan, tất cả mọi cái đang tồn tại đều là phức hợp những cảm giác của con người. Do đó, nhận thức, theo họ, chẳng qua là sự nhận thức cảm giác, biểu tượng của con người. 28 Duy tâm khách quan, mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song coi nhận thức cũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự nhận của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người.
Thuyết hoài nghi nghi ngờ tính xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên tắc nhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài. Thuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới. Đối với họ, thế giới không thể biết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra, con người không thể biết được gì nữa. Quan điểm của thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người.
o Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình: Thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người. Tuy nhiên, do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trực quan nên chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không giải quyết được một cách thực sự khoa học những vấn đề của lý luận nhận thức. Nhìn chung chủ nghĩa duy vật trước C.Mác chưa thấy đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Khái niệm biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là thuật ngữ được dùng để chỉ sự thay đổi của khí hậu do tác động chủ yếu của con người làm thay đổi các thành phần của khí quyển trái đất.
Sự thay đổi này kết hợp với các yếu tố biến động tự nhiên của tự nhiên dẫn tới các biến đổi của khí hậu qua các thời kỳ. Nói một cách dễ hiểu, biến đổi khí hậu chính là sự thay đổi của hệ thống khí hậu từ sinh quyển, khí quyển, thủy quyển tới thạch quyển trong hiện tại và tương lai. 29 Biến đổi khí hậu đề cập đến những thay đổi dài hạn về nhiệt độ và kiểu thời tiết. Những thay đổi như vậy có thể là tự nhiên, do những thay đổi trong hoạt động của mặt trời hoặc những vụ phun trào núi lửa lớn.
Nhưng kể từ những năm 1800, các hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu , chủ yếu là do việc đốt các nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt. Việc đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra khí thải nhà kính hoạt động giống như một tấm chăn quấn quanh trái đất, giữ nhiệt của mặt trời và làm tăng nhiệt độ. Vậy, thế nào là thích ứng với biến đổi khí hậu? Trước hết, đó là sự nhận thức của con người về thực trạng biến đổi khí hậu mà trái đất đang phải đối mặt, đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, khu vực và cộng đồng dân cư trên cơ sở kịch bản biến đổi khí hậu và dự báo phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, triển khai hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và dựa vào hệ sinh thái; ứng phó với nước biển dâng và ngập lụt đô thị, xây dựng, triển khai hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Khái niệm phát triển bền vững Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Sau này, khái niệm “phát triển bền vững” được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 qua Báo cáo Brundtland (Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: “Nhân loại có khả năng làm cho sự phát triển trở nên bền vững để đảm bảo rằng sự phát 30 triển này có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” Phát triển bền vững được định nghĩa là sự phát triển nhằm thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng của các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ Đồng bằng sông Cửu Long nhiều tiềm năng phát triển khoa học công nghệ song cần giải pháp cụ thể biến bất lợi thành cơ hội, thúc đẩy chuyển đổi số nông nghiệp, kinh tế - xã hội.
Đồng bằng sông Cửu Long hiện là một trong 7 vùng kinh tế lớn trên cả nước với nhiều tiềm năng về cả nông nghiệp lẫn lĩnh vực khoa học, công nghệ. Hiện địa bàn các tỉnh trong khu vực sở hữu nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại. là nền tảng thuận lợi cho các giải pháp đổi mới, sáng tạo.