mở đầu bởi việc thống kê lại tình hình chiến sự, xã hội tại Việt Nam lúc bấy giờ vô cùng ngặt nghèo, lao đao do sự cai trị, bóc lột của Pháp quốc: Nước ta bị nước Pháp bảo hộ đến ngày đó đã gần ba bốn mươi năm rồi, nhưng sự hủ bại vẫn không thay đổi, cách văn minh chẳng hề bắt chước,mà cái nọc độc chuyên chế ức hiếp vẫn còn gớm ghiếc như thế. Vậy thời cái văn minh của nước bảo hộ không có ích gì cho nước bị bảo hộ, mà nước bị bảo hộ cũngkhông nhờ gì được sự khai hoá của nước bảo hộ, lạ quá! Sự đó trong đời nầy cũng ít thấy vậy. (Phan Chu Trinh, 1922) Phan Chu Trinh thể hiện sự căm phẫn khi nhìn thấy sự thờ ơ, kiêu căng, dâm dục, nghịch phép tắc của nhiều quan lại triều đình, thêm khả năng điều hành đất nước yếu kém của vua Khải Định mà đất nước ngày càng rơi vào cảnh lầm than: Vậy mà nay tôi nghe Bệ hạ từ khi lên ngôi tới giờ, có làm điều gì ích lợi cho dân không? Không, chỉ nghe có những điều kiêu căng, dâm dục, trái luân lý;nghịch phép tắc; quyền vua muốn cho tôn sùng, thưởng phạt mất cả công chính;hút cái máu mủ của dân nghèo, trau cái xác thịt cho sung sướng, ngược văn minhcủa thế giới, ngăn đường tiến bộ của quốc dân; nết xấu tính hư, chứa chan đầynhẩy, không sao mà nói cho xiết được." (Phan Chu Trinh, 1922) Phan Chu Trinh chỉ rõ bảy tội lớn của vua Khải Định một cách đanh thép, không dung dưỡng, nhúng nhường. Trong đó, bao gồm: Tội tôn quân quyền, tội thưởng phạt không công bình, tội chuộng sự quỳ lạy, tội xa xỉ vô đạo, tội phục sức không đúng phép, tộidu hạnh vô độ, tội cho việc Pháp du ám muội.
Trong từng luận điểm, Phan Chu Trinh chỉ ra sự thối nát của vương triều Khải Định và không ngại lên tiếng thẳng mặt bậc quân vương 16 Nay Bệ hạ sinh đẻ trong nước Nho giáo, và làm vua trong thì bây giờ là thế kỉ 20, mà nước ta lại đứng dưới quyền nước dân chủ Pháp Bảo hộ, Bệ hạ lại dám tôn mình như thần thánh, nghênh ngang trên đầu dân. Vậy thời chẳng những dân Việt Nam không thể dung được Bệ hạ, mà dân nước Pháp lại càng khi dễ Bệ hạ nữa. (Phan Chu Trinh, 1922) Phan Chu Trinh chỉ rõ việc phải làm của một nhà vua là phải tranh đấu vì dân, nhận ra rõ bộ mặt thật của Pháp quốc, chứ không phải mở đường cho tình trạng tham nhũng, gian dối lo lót phát triển ngay trong phủ vương. Khi lòng dân đang bất mãn, xã hội lầm than thì vua quan tranh nhau hưởng thụ lối sống xa xỉ đáng xấu hổ: Trung kỳ nước ta, nông dân thời nghèo khổ đến cực điểm, thiên tai tới tấp, oan vong thường thấy, quan tham lại nhiễu, đất xấu dân cùng, lại thêm trong lúc giặc giã, vật giá cao vọt, tình trạng lưu ly đến nay chưa cứu vớt, xâu thuế nặng nề, gánh vác không nổi; nói đến việc mở mang trí khôn, việc nâng đỡ đời sống thời còn xa lắc xa lơ, sánh với Nam, Bắc kỳ, bên khô bên tươi cũng đã rõ rệt rồi.
Thế mà ngân sách còn kêu thiếu hụt, ép dân mua rượu, thuốc phiện để làm giàu công quỹ, trắng trợn như thế còn phải làm, còn nói chi nữa. (Phan Chu Trinh, 1922) Nạn chết đói, chết dịch, bão lũ hoành hành khiến bao nhân dân các tỉnh miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An điêu đứng. Ấy vậy mà vua quan lại "xây cung điện nguy nga ở làng An Cựu, mua những đồ sứ của Tàu, mỗi lần vài ngàn bạc, đem về đập bể ra, lựa những miếng nào bông hoa đẹp, để gắn những hình con long, lân, qui, phụng, cho thỏa lòng xa xỉ của Bệ hạ". Phan Chu Trinh không ngần ngại vạch trần triều đình phong kiến thối nát và kêu gọi sự thay đổi - vốn dĩ khó khăn - của Khải Định.
Điều này cũng cho thấy tư tưởng bài xích chế độ phong kiến thối nát, lỗi thời ngày càng mạnh mẽ trong tư duy chính trị của Phan Chu Trinh. Sau này, dù vẫn coi trọng Nho giáo - tôn giáo, học thuyết phát triển trong chế độ phong kiến, nhưng Phan Chu Trinh 17 mong muốn trước tiên xoá bỏ chế độ hủ lậu này để mang đến dân quyền cho nhân dân. Bức thư đanh thép của Phan Chu Trinh phần nào tóm lược tình hình xã hội đương thời, cảnh tỉnh chế độ phong kiến sắp lụi tàn và khích động quần chúng nhân dân nhận diện rõ kẻ thù của quốc gia trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do. Nhìn chung, chính mâu thuẫn giai cấp, xã hội càng lớn đã đẩy tới việc nhân dân, và đại bộ phận sĩ phu yêu nước phải nhìn nhận lại vận mệnh đất nước đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc.
Nguyên nhân và điều kiện hình thành tiếp xúc với tân thư 1. Bối cảnh lịch sử đất nước dẫn đến tiếp xúc với tân thư Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp, làm nảy sinh một số giai cấp mới, song chưa có giai cấp nào đủ điều kiện để đứng lên lãnh đạo phong trào yêu nước đương thời. Ngọn cờ dân tộc, dân chủ thời đại mới, lịch sử đành trao tay cho giai cấp cũ – các sĩ phu nho học. Có thể nói, trước sự thay đổi nhanh chóng của thời đại, các nhà nho yêu nước tiến bộ đã không ngừng đổi mới bản thân để tiếp thu cái hiện đại.
Họ chủ động tìm kiếm, đón nhận luồng gió Tân thư. Tân thư như ngọn gió Đông ấm áp từ từ len lỏi vào Việt Nam đem đến những cái nhìn tiến bộ, khác hẳn Nho học truyền thống, nó hé mở con đường cứu nước mới. Tân thư là khái niệm dùng để gọi chung cho các sách báo mới về nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật., đặc biệt là sách chính trị của nước ngoài được bí mật đưa về Việt Nam. Các nhà nho Việt Nam “khai tâm” bằng những tân thư của Khang, Lương và tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây qua sách dịch Trung Quốc.
“Các nhà nho cách mạng rất đam mê Tân thư không phải để thỏa mãn lòng yêu thích một học thuyết mới lạ, mà để tìm phương án giải quyết vấn đề dân tộc. Họ đã vận dụng các học thuyết Tân thư mà họ tiếp thu được vào công cuộc cứu nước.” (Phan Bội Châu, 1990, tr. 18 Phong trào nêu cao tinh thần giáo dục - dưỡng dục và cách tân. Biện pháp là hình thành, rộng mở các trường học, tập trung dạy kiến thức mới, chống lại những lý thuyết cũ kĩ của nhà trường Nho giáo.
Với đề xuất này, việc học tập được chú trọng, đặc biệt là nâng cao đạo đức công dân, đại đoàn kết dân tộc, mở mang công thương nghiệp, phát động việc ưu tiên dùng hàng trong nước, tuyên truyền bác bỏ “hủ nho”, đẩy mạnh việc dùng chữ quốc ngữ, tuyên truyền nâng cao lòng yêu nước, tình đồng bào, đồng chí và các tiêu chuẩn đạo đức của người dân. Sự ra đời của trường Đông Kinh nghĩa thục là bước đầu đặt nền móng cho công cuộc mở rộng tư tưởng đổi mới của các nhà nho. Đông Kinh nghĩa thục đã khai giảng ở Hà Nội vào tháng 3/1907, số học sinh lúc đầu có 400-500, sau lên 1000, có ký túc xá cho vài chục học sinh. Trong các tài liệu được sử dụng trong giảng dạy tại Đông Kinh nghĩa thục, tác phẩm Văn minh tân học sách là tác phẩm điển hình.
Tác phẩm này đã chứng minh cách thức các nhà Nho yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ vận dụng tư tưởng Tân thư vào chủ trương đổi mới đất nước. Luận điểm sơ khai nền tảng của cuốn sách là điều quyết định sự phát triển văn minh hay lạc hậu của một quốc gia là trình độ dân trí. Vì vậy, muốn tiến lên văn minh thì phải mở mang dân trí, ngược lại càng văn minh thì dân trí càng phải cao. Văn minh tân học sách chỉ ra nguyên nhân nước ta chậm phát triển so với các nước châu Âu là do: Một là, khởi ở các điểm nội hạ ngoại di, không thèm hỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác.
Hai là phát khởi ở điểm quí đạo vương, khinh đạo bá, không cần giảng đến cái học cơ xảo phú cường của nước ngoài. Ba là, khởi đầu ở điểm cho xưa là phải, nay là quấy, không chịu xem xét kiến thức và sự suy nghĩ bàn luận của người sau. Bốn là, khởi ở cái điểm trọng quan và khinh dân, nên không thèm kể đến tình hình hay dở ở chốn lương thôn.Về giáo dục: “những môn ta 19 học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu. chỉ là lời dạy của cổ nhân., những thứ ta thị ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngũ ngôn, biền ngẫu tứ lục.” trong khi ở các nước Âu Tây thì chú trọng các môn khoa học .Về chính trị: chính trị thì “cấm thay đổi sửa sang, dùng người thì quí im lìm lặng lẽ., dân gian không được học thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hòa.
Về xã hội: “ngoài văn chương không có gì là quý, người áp chế không có gì là tôn chỉ, ngoài phục tùng không có gì là nghĩ xa.” trong khi các nước Âu Tây có chính thể cộng hòa., có phái tự do. Về phong tục thì: “lìa nhà mười dặm đã bùi ngùi.” chưa từng nghĩ tới các “môn học thực dân”, chưa từng đi tìm “thị trường tiêu thụ hàng hóa.” trong khi các nước Âu Tây thì ―trọng du lịch và xem thường hiểm trở gian nan (Phan Bội Châu, 1990, tr. Từ đó, đưa ra giải pháp: Biện pháp thứ nhất: “Dùng văn tự nước nhà” Biện pháp thứ hai: “Hiệu đính sách vở” Biện pháp thứ ba: “Sửa đổi pháp thi”. Biện pháp thứ tư: “Cổ võ nhân tài”.
Biện pháp thứ năm: “Chấn hưng công nghệ”. Biện pháp thứ sáu: “Mở tòa báo”. Cuối tác phẩm, tác giả đưa gương duy tân của nước Nhật, gương thức tỉnh của người Trung Quốc, thống thiết kêu gọi phải học tập và thâu thái văn minh Âu châu. Như vậy, Văn minh tân học sách đã cổ vũ tinh thần chống bảo thủ, coi trọng việc mở mang dân trí, mở ra trào lưu Duy tân đất nước.
Văn minh tân học sách cũng giống như nhiều tài liệu giáo dục của Đông Kinh nghĩa thục, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp và thuyết 20 tiến hóa luận, trong đó có thuyết cạnh tranh sinh tồn.