Chương I, vấn dé dau hiệu mang chức năng bước đâu được giới thiệu qua phân tích về cơ sở hình thành, tầm quan trọng của các quy định nói chung. Do tính chất phức tạp của vấn dé, tác giả luận án cho rằng những kết luận cụ thể về dấu hiệu mang chức năng chỉ có thể có được khi đã tiến hành những nghiên cứu chỉ tiết. Ở chương II và chương III của luận án, tác giả đi sâu vào khảo sát những quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng dấu hiệu mang chức năng tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Là quốc gia mà dấu hiệu mang chức năng có bề dày phát triển ké cả về phương diện lập pháp lẫn nghiên cứu học thuật, Hoa Kỳ có thể cung cấp nhiều kinh nghiệm đáng được tham khảo.
Các dấu hiệu này đã được phân tích khá cụ thé tại cả hai hệ thống toà án liên bang và toà án bang. Theo đó, dấu hiệu mang chức năng được khắc hoạ đa dang, với nhiều yếu tố, thành phan, nội dung khác nhau, và trên thực tế, đã nhận được những sự ủng hộ, phản đối từ các thâm phán, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia. Có thể nói, với bức tranh tổng quan về dấu hiệu mang chức năng tại Hoa Kỳ, chúng ta có được cái nhìn khá toàn diện về nội hàm của dấu hiệu này. Pháp luật và thực tiễn của Châu Âu cũng góp thêm cho chúng ta một bài học kinh nghiệm của vấn đề này.
Tuy nhiên, nếu như dấu hiệu mang chức năng tại Hoa Kỳ được phân tích rất chỉ tiết và cụ thể, vấn đề này tại Châu Âu lại được nhìn nhận tương đối khái quát và tập trung chủ yếu vào những vấn dé mang tính cơ sở. Vì vậy, sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận với cùng một vấn đề sẽ đưa đến hai bức tranh từ hai góc độ khác nhau về cùng một vấn dé dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật vê nhãn hiệu. Tại Việt Nam, từ tìm kiếm trong hệ thống luật thực định và qua khảo sát thực tế, tác giả luận án cho rằng chưa xuất hiện các quy định về dau hiệu mang chức năng. Van đề này được trình bày trong Chương IV, thông qua phân tích các quy định của pháp luật về nhãn hiệu cũng như thực tiễn liên quan tại Việt Nam.
Trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có thé tìm thấy một số quy định mà thoạt nhìn có ‘dang dap’ liên quan 19 đến vấn đề này. Do đó, tác giả phân tích và giải thích một cách chỉ tiết các quy định này để chỉ ra rằng những quy định này điều chỉnh những van đề hoàn toàn khác biệt. Trong nội dung của Chương IV, một số nội dung liên quan đến việc lý giải thực tế về sự phát triển của pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và thực tế của các quy định liên quan đến dau hiệu mang chức năng sẽ được trình bày một cách khái quát. Chương V của luận án là một chương tông hợp gồm ba nội dung chính là so sánh dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật của Hoa Kỳ và Châu Âu; tổng kết đánh giá về đấu hiệu và đề xuất kiến nghị đối với pháp luật Việt Nam.
Trong nội dung so sánh, chủ yếu những điểm khác biệt trong hai chế định dấu hiệu mang chức năng từ hai khu vực này sẽ được trình bày và lý giải. Đây là nền tảng cơ bản cho những tổng kết đánh giá về vấn đề dấu hiệu mang chức năng. Trong nội dung này, theo quan điểm cá nhân và dựa trên toàn bộ vấn đề nghiên cứu, tác giả chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của mỗi cách thức áp dụng, xác định dấu hiệu mang chức năng trên thực tế, cũng như đưa ra những kết luận chung về van dé. Tác giả xây dựng và đề xuất các kiến nghị về việc áp dụng dấu hiệu mang chức năng trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ hai cơ sở chính đó là từ nội ham của dấu hiệu mang chức năng đã được miêu tả, phân tích, so sánh và tổng kết ở những phần trước và từ chính những điều kiện đặc thù kinh tế- xã hội và hệ thống pháp luật Việt Nam.
Theo cách đó, những kiến nghị được đề xuất trong luận án sẽ bao gồm những kiến nghị chung và những kiến nghị cụ thể. 20 CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG Trong Chương I, tác giả sẽ trình bày một số van dé chung và giới thiệu sơ bộ về vấn dé nghiên cứu của luận án. Thông qua việc khải quát rất ngắn gọn một số văn bản pháp luật quốc tế và trong nước quy định về sở hữu trí tuệ, tác giả muốn nhắn mạnh rang các dau hiệu mang tinh chất chức năng không được quy định tại các văn bản này. Ngoài ra, đo giới hạn của vấn đề nghiên cứu chỉ trong phạm vi pháp luật về nhãn hiệu, Chương I cũng sẽ dé cập tới một số vấn đề cơ bản của nhãn hiệu.
Tuy nhiên, các quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên cũng như những khía cạnh của pháp luật nhãn hiệu sẽ không được trình bày chi tiết trong nội dung Chương I. Mục đích chính của Chương I chỉ là giới thiệu các nội dung vừa nêu, với ý nghĩa tạo cải nhìn và cách tiếp cận ban dau cho những nghiên cứu cụ thê và chi tiêt tiép sau. Chương I cũng sẽ giới thiệu khải quát về các dấu hiệu mang tinh chất chức năng trong pháp luật nhãn hiệu. Bởi vì đây là một vấn đề còn khả mới, đặc biệt là với hệ thống pháp luật Việt Nam, việc nhận diện cũng như hiểu chính xác nội hàm của vấn đề là vô Củng quan trọng.
trong phạm vi của Chương I, các dấu hiệu này được phân tích và trình bày chủ yếu phục vụ cho mục đích khái quát bối cảnh và lý do xuất hiện của các quy định trong pháp luật nhãn hiệu nói riệng, pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, xuất phát đẳng thời từ yêu câu của thực tiễn và đòi hỏi của pháp luật. Dé đảm bảo tính thống nhất chung trong nội dung trình bày của luận án, cũng như để đạt được những kết luận chính xác về chủ dé nghiên cứu, Chương I sẽ không dua ra những kết luận, phân tích hay tổng kết cụ thể về các dau hiệu mang chức năng. Dé có được những thông tin này, câu trả lời cần phải dựa trên tông thê toàn bộ nội dung của luận án.1 Khai quát về lich sử phat triển nhãn hiệu Từ xa xưa, loài người đã biết dùng các dấu hiệu để thể hiện sự sở hữu tài sản của mình trong vai trò người chủ hoặc nhóm sản xuất. Người nguyên thủy đã biết dùng các ký hiệu để đánh dấu sở hữu trên các vật nuôi.
Ví dụ như, trong các hang động mà người nguyên thủy sinh sống khoảng 5000 năm trước công nguyên, các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều bức vẽ về các con bò rừng, trên hông chúng có đánh dấu nhiều dấu hiệu khác nhau. Họ cho rằng những dấu hiệu này chính là những dấu hiệu xác định quyền sở hữu. Những dấu hiệu tương tự cũng được các nhà khảo cổ tìm thấy trên một số bình gốm khai quật được ở nhiều nơi trên thế gidi. Sau này, các dấu hiệu bắt đầu được sử dụng để chỉ ra ai là người sản xuất các sản phẩm và cũng để bảo đảm về chất lượng công việc của họ.
Những khảo vật của 3500 trước công nguyên chỉ ra rằng hàng hóa của người Mesopotamian được xác định với những con dấu hình trụ, còn những con dấu bằng đá thì được dùng cho người Knossos ở Crete. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy nhiều viên gạch, đồ gốm, đá mỏ hoặc mái ngói của triều đại Ai cập đầu tiên và từ thời kỳ 3000 năm trước công nguyên. Các mẫu vật này có mang các dấu hiệu được phân tích là của con người thời kỳ đó sử dụng để xác định sở hữu. Cụ thể như các con dấu trên đồ gốm thủ công gần Corinth (sản phẩm từ những năm 2000 trước công nguyên) và các dấu vết dé lại trên các sản phẩm gốm sản xuât tại Hy Lạp (sản phẩm của thé kỷ thứ 6 va thế kỷ thứ 3 trước công nguyên).
Việc sử dụng các dấu hiệu được phát triển ở mức độ chuyên sâu hơn với Dé chế Roma, thể hiện trong các ghi chép còn lưu lại đến thời nay, miêu tả việc sử dụng các dấu hiệu với những mục đích kinh tế nhất định. Có thể lấy ví dụ như các viên gạch của thời kỳ này sau khi sản xuất đều được đánh dấu bằng một số dấu hiệu cụ thê. Bước vào thời kỳ Phục hưng, khi Đề chế Roman tan rã, những tài liệu miéu tả việc sử dụng các dấu hiệu trong thời kỳ này không được tìm thấy nhiều. Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ định là các dấu hiệu vẫn không ngừng được sử dụng với 22 những mục đích khác nhau trong suốt giai đoạn này.
Thoạt đầu, các dấu hiệu được sử dụng dé xác định nhà sản xuất, véi mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng. Sau đó, các dấu hiệu lại được sử dụng để xác định sự gắn bó, mối liên kết giữa nhà sản xuất với một phường hội nhất định, đồng thời để bảo hộ sự độc quyền của các phường hội này. Có thê thấy, các dấu hiệu trong giai đoạn sau thường được sử dụng với vai trỏ thé hiện lợi ích của nhà sản xuất hơn là vì mục tiêu của người tiêu dùng. Kế đến ở giai đoạn khi mà quảng cáo được xem như một hành vi không lành mạnh, dau hiéu lại được các nha san xuất sử dụng với ý nghĩa xác định thương hiệu của họ trên thị trường.
Sau cùng, tuy mới chỉ dừng lại ở các quy định chung chung, các dấu hiệu đã chính thức được pháp luật công nhận giá trị tài sản của chúng, cũng tương đương như những loại tài sản khác. Và ké từ thời kỳ Phục hưng, các dấu hiệu hay gọi theo thuật ngữ pháp lý là các nhãn hiệu được chấp nhận và sử dụng với ý nghĩa ‘dich thực” của chúng cho tới ngày hôm nay. Trong quá trình phát triển của mình, nhãn hiệu đã trở thành một khái niệm rất phổ biến trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, được thể hiện dua nhiều loại khác nhau.' Pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cũng liên tục được mở rộng, đóng vai trò quan trọng trong phát triển đời sống kinh tế xã hội hiện dai.2 Các văn bản quy định về nhãn hiệu Trong nội dung này, một số văn bản, cả quốc tế, khu vực và trong nước, có quy định về nhãn hiệu được nêu lên một cách khái quát.