Chương 1 “Giới thiệu” nhằm mục đích giới thiệu tầm quan trọng của nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 “Tổng quan về gian lận trên báo cáo tài chính”. Chương này, trình bày định nghĩa về báo cáo tài chính gian lận, nền tảng lý thuyết về gian lận như lý thuyết tam giác gian lận, lý thuyết đại diện, và tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề gian lận trên báo cáo tài chính. Đây là cơ sở để xây dựng khung phân tích.
Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu” đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn mẫu, xây dựng các biến nhận diện yếu tố dẫn đến có rủi ro gian lận và mô hình hồi quy logistic. Chương 4 “Phân tích và thảo luận kết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quả nghiên cứu”, kết quả kiểm định mối tương quan giữa các yếu tố dẫn đến có rủi ro gian lận và thực hiện lập báo cáo tài chính gian lận. Cuối cùng, Chương 5 “Kết luận”. Chương này trình bày kết luận chính của nghiên cứu, cũng như các đóng góp của đề tài.
Ngoài ra chương này còn trình bày các hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến chủ đề về gian lận trên báo cáo tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Mục đích chính của nghiên cứu là kiểm định ảnh hưởng các yếu tố dẫn đến có rủi ro gian lận đến thực hiện gian lận trên báo cáo tài chính để nâng cao hiệu quả nhận diện báo cáo tài chính gian lận. Trong chương này, trước tiên trình bày tổng quan về gian lận trên báo cáo tài chính bao gồm định nghĩa gian lận, gian lận trên báo cáo tài chính, người thực hiện gian lận và phương pháp thực hiện gian lận. Điểm quan trọng trong chương này là lý thuyết tam giác gian lận, lý thuyết đại diện làm cơ sở xây dựng sự hiểu biết về các yếu tố dẫn đến có rủi ro gian lận.
Một phần không thể thiếu là trình bày tổng quan các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước liên quan đến các yếu tố dấn đến có rủi ro gian lận giúp nhận diện báo cáo tài chính gian lận. Tổng quan này cho thấy khoảng trống nghiên cứu ở Việt Nam, và điều này giải thích cho tính cần thiết phải thực hiện nghiên cứu này trong điều kiện kinh tế ở nước ta. Trong phần cuối chương, sẽ trình bày khung phân tích về sự ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến có rủi ro gian lận đến việc thực hiện lập báo cáo tài chính gian lận. Tổng quan về gian lận trên báo cáo tài chính 2.
Định nghĩa gian lận Hành động gian lận luôn tồn tại trong nhiều điều kiện kinh tế xã hội khác nhau và trong bất kỳ tổ chức nào. Khi gian lận xảy ra ảnh hưởng đến nhiều cá nhân, tổ chức và thị trường vốn. Vậy gian lận được hiểu như thế nào? Theo từ điển Tiếng Việt, gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác [8, trích lại tr. Trong lĩnh vực kiểm toán, định nghĩa về gian lận được đề cập trong chuẩn mực kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 đoạn 11, định nghĩa gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong ban quản trị, ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp. Còn theo Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ số 99 đoạn 5, gian lận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 là một hành động cố ý, kết quả dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính trong cuộc kiểm toán. Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận thì gian lận là hành vi cố tình lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích tài sản của doanh nghiệp nhằm thu lợi cho cá nhân [10]. Các định nghĩa về gian lận ở trên có các thành phần như: (1) Đối tượng thực hiện gian lận như ban quản trị, ban giám đốc, nhân viên; (2) Thực hiện gian lận với mục đích để thu lợi ích; (3) Thực hiện gian lận bằng hành vi gian dối, lạm dụng, sử dụng sai mục đích của tài sản; (4) Nạn nhân ảnh hưởng của hành vi gian lận là cá nhân hoặc tổ chức bị tổn thất do gian lận xảy ra.
Trong các định nghĩa trên về gian lận để phân biệt gian lận và sai sót dựa vào hành động cố ý hay không cố ý. Hành động cố ý thực hiện gian lận thường khó xác định được ví dụ như trường hợp xác định các ước lượng kế toán hoặc ứng dụng các nguyên tắc kế toán là cố ý hoặc không cố ý dẫn đến báo cáo tài chính sai lệch. Hơn nữa, gian lận là một khái niệm pháp lý rộng, kết luận về gian lận thuộc về cơ quan quản lý nhà nước. Kiểm toán viên không đưa kết luận có hay không có gian lận trên báo cáo tài chính.
Mặc dù, cuộc kiểm toán không được thiết kế để xác định ý định, nhưng kiểm toán viên phải có trách nhiệm lập kế hoạch, thực hiện cuộc kiểm toán nhằm đảm bảo báo cáo tài chính không có sai sót trọng yếu, cho dù sai sót đó là cố ý hay không cố ý. Dưới khía cạnh người sử dụng thông tin kinh tế tài chính như nhà đầu tư, chủ nợ và các đối tượng có lợi ích khác trong thị trường vốn. Khi chỉ sử dụng các thông tin được công bố thì việc xác định sai sót là cố ý hay không cố ý là điều khó. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về gian lận, nhưng với mục đích sử dụng các thông tin được công bố để nhận diện gian lận, thì trong nghiên cứu này gian lận được hiểu là hành vi cố ý hoặc sai sót ảnh hưởng đến người khác, kết quả dẫn đến nạn nhân bị tổn thất và/hoặc người thực hiện thu được một lợi ích.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại gian lận Gian lận luôn tồn tại, có thể xảy ra trong tất cả các tổ chức kinh tế xã hội và có nhiều hình thức gian lận khác nhau. Theo Báo cáo quốc gia về gian lận ACFE năm 2012 [10], dữ liệu để thực hiện nghiên cứu là từ 1,388 gian lận xảy ra trên toàn cầu từ tháng 01.2010 đến tháng 12. Tất cả thông tin được cung cấp bởi các thành viên của ACFE những người điều tra các tình huống gian lận từ 94 quốc gia.
Trong báo cáo này, gian lận bao gồm ba loại gian lận: Tham ô: lợi dụng trách nhiệm, quyền hạn làm lợi cho bản thân (ví dụ: nhận tiền bất hợp pháp, hối lộ, và tống tiền); Gian lận liên quan đến biển thủ tài sản: (ví dụ: biển thủ tiền, đánh cắp thiết bị, đánh cắp văn phòng phẩm); Gan lận trên báo cáo tài chính: thông tin trên báo cáo tài chính không phản ánh trung thực, hợp lý (ví dụ: ghi nhận doanh thu không xảy ra, hạch toán sai niên độ kế toán, che giấu nợ phải trả). Trong VSA số 240, SAS số 99 gian lận được phân loại gồm hai loại [1, 11]: Biển thủ tài sản: ví dụ như biển thủ các khoản phải thu đã thu được bằng tiền, lấy cắp hàng tồn kho, trả lương cho nhân viên không có thực; Gian lận trên báo cáo tài chính: ví dụ như ghi nhận doanh thu khống, đánh giá thấp nợ phải trả và chi phí, giao dịch nội bộ, ghi nhận tài sản không thuộc sở hữu, chi phí vốn hoá không đúng, không công bố các thông tin các nghiệp vụ kinh tế ảnh hưởng báo cáo tài chính. Định nghĩa gian lận trên báo cáo tài chính Định nghĩa báo cáo tài chính gian lận được chấp nhận và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau được phát biểu bởi Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về gian lận báo cáo tài chính (National Commission on Fraudulent Financial Report) trong báo cáo quốc gia về gian lận trên báo cáo tài chính năm 1987. Theo Hội đồng này, báo cáo tài chính gian lận được hiểu như là hành vi cố ý hoặc nhầm lẫn (sai sót), cho dù cố ý hoặc nhầm lẫn kết quả dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính [21, tr.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Trong lĩnh vực kiểm toán định nghĩa về gian lận trên báo cáo tài chính được đề cập trong chuẩn mực kiểm toán. Trong SAS số 99 (2002) trách nhiệm của kiểm toán viên về gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA, American Institute of Certifield Public Accountants). Trong SAS số 99 đoạn 6, báo cáo tài chính gian lận do hành vi cố ý trình bày sai hoặc làm sai lệch số tiền hoặc không công bố các sự kiện, giao dịch ảnh hưởng đến người sử dụng báo cáo tài chính dẫn đến có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính, cố ý áp dụng sai các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung, tất cả dẫn đến có sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính [11, đoạn 6]. Trong VSA số 240 đoạn A3 cũng đề cập việc lập báo cáo tài chính gian lận có thể được thực hiện thông qua các hành vi sau: (1) Xuyên tạc, làm giả, hoặc sửa đổi chứng từ, sổ kế toán có chứa đựng các nội dung, số liệu được dùng để lập báo cáo tài chính; (2) Làm sai lệch hoặc cố ý không trình bày trong báo cáo tài chính các sự kiện, giao dịch hoặc các thông tin quan trọng khác; (3) Cố ý áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan đến các số liệu, sự phân loại, cách thức trình bày hoặc thuyết minh [1, đoạn A3].
Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận (ACFE) thì gian lận trên báo cáo tài chính được hiểu là trường hợp các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp méo, phản ánh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử dụng thông tin [8, trích lại tr. Theo Báo cáo COSO năm 2010 [15, tr.7], gian lận trên báo cáo tài chính là hành vi cố ý làm sai lệch trọng yếu báo cáo tài chính hoặc không trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính.