CHƯƠNG 1. MÔ HÌNH HỌC TỪ ĐIỂN VÀ MÃ THƯA Con người chúng ta ghi nhớ về một hiện tượng, sự vật; cách chúng ta phân biệt các hiện tượng, sự vật khác nhau không hề đầy đủ các tín hiệu về hiện tượng, sự vật đó mà chỉ qua một vài tín hiệu nhất định. Chúng ta phát hiện ra một bản nhạc có thể chỉ bằng vài nốt nhạc đầu tiên hay nhận ra khuôn mặt của ai đó sau nhiều năm không gặp chỉ thông qua vị trí nốt ruồi gần mắt. Đây chính là tiền đề cho một phương pháp biểu diễn tín hiệu được gọi là biểu diễn thưa.
Ban đầu mục đích cho việc biểu diễn thưa chỉ dừng lại ở việc biểu diễn tín hiệu một cách cô đọng, giảm không gian lưu trữ tín hiệu mà không làm mất mát thông tin có giá trị. Trong những năm gần đây, biểu diễn thưa cho một tín hiệu đầu vào đã được đông đảo các nhà nghiên cứu tham gia tìm hiểu và phát triển thêm những tính chất phù hợp hơn với các bài toán thực tế đa dạng. Với ý tưởng thực hiện biểu diễn thưa cho tín hiệu ban đầu dựa trên bộ các thành phần (atoms) được tạo nên từ chính tập tín hiệu đã có sẵn, mô hình học từ điển thưa trở thành một mô hình mạnh trong việc biểu diễn tín hiệu và mở rộng ra cho việc loại bỏ nhiễu, nén, phân loại tín hiệu [4,43]. Bởi thế, mô hình học từ điển thưa đáng được quan tâm và phát triển cũng như ứng dụng vào nhiều hơn nữa các bài toán thực tế đầy thách thức.
Chương này của luận văn sẽ trình bày cụ thể về mô hình học từ điển cổ điển cũng như cách để xác định từ điển và hệ số biểu diễn thưa (mã thưa). Ngoài ra, luận văn cũng trình bày một hướng phát triển khác của mô hình học từ điển ứng dụng cho phân lớp là mô hình học từ điển không cần đảm bảo tính thưa (tức yếu tố ràng buộc đối với hệ số biểu diễn thưa đã không còn được chú trọng). Biểu diễn thưa và học từ điển 1. Biểu diễn thưa Trong thế giới số, mọi tín hiệu đều được biểu diễn dưới dạng số và việc biểu diễn này có hiệu quả hay không sẽ ảnh hưởng đến các phép xử lý tiếp theo trong đó có truyền gửi và lưu trữ.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu luôn mong muốn việc biểu diễn tín hiệu trong thế giới số gần nhất có thể với tín hiệu thế giới thực nhưng có thể truyền đưa và lưu trữ ngắn gọn dẫn tới tín hiệu thường không được biễu diễn trùng khớp hoàn toàn mà sẽ được biểu diễn thông qua các đặc trưng đủ để phân biệt tín hiệu này với tín hiệu khác giúp quá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trình truyền đưa và lưu trữ bớt tốn kém cũng như tăng tốc độ của việc xử lý tín hiệu sau đó. Ý tưởng này hình thành nên một phương pháp biểu diễn tuyến tính gọi là biểu diễn thưa. Về mặt nguồn gốc lý thuyết, biểu diễn thưa có liên quan đến lý thuyết cảm biến nén (Compressed Sensing – CS) [43]. Theo lý thuyết CS thì những tín hiệu thưa hoặc được nén thì tín hiệu ban đầu có thể được khôi phục bằng cách triển khai một vài giá trị đo được trong khi số lượng những giá trị này ít hơn nhiều so với cách lấy mẫu của Shannon (Shannon’sampling theorem - SST) và luật lấy mẫu Nyquist (Nyquist sampling law - NSL).
Các thành tố cơ bản trong lý thuyết CS bao gồm biểu diễn thưa, mã hóa và thuật toán khôi phục. Mục đích của biểu diễn thưa là đưa không gian biểu diễn tín hiệu ban đầu sang không gian nhiều chiều hơn giúp những thành phần đặc trưng của tín hiệu “nổi lên” rõ ràng hơn so với “bề mặt”, sau đó tín hiệu sẽ được “ghi nhớ” thông qua những thành phần đặc trưng này thay vì toàn bộ các thành phần như lúc ban đầu để đưa vào các quá trình xử lý tiếp theo. Mỗi ảnh số là một ảnh tự nhiên được số hóa dưới dạng ma trận số. Với ảnh màu ta sẽ có 3 ma trận số tương ứng với các kênh màu tùy thuộc vào hệ màu biểu diễn khác nhau và thông thường các ma trận biểu diễn này là ma trận “dày” với hầu hết các giá trị trong đó khác không [1].1 biểu diễn một mẫu ảnh đa mức xám kích thước 14x14.
Mẫu ảnh đa mức xám và biểu diễn dày Ta hoàn toàn có thể biểu diễn mẫu ảnh này bằng một vec-tơ có 14x14 = 156 chiều, tuy nhiên cách biểu diễn này sẽ dễ bị tác động bởi nhiễu và “cồng kềnh” khi phải truyền gửi và lưu trữ. Khi áp dụng biểu diễn thưa vào, mặc dù sẽ đẩy số chiều vecto biểu diễn cho ảnh lên cao hơn nhưng số lượng giá trị thực tế cần “ghi nhớ” lại rất ít do hầu hết thành phần của vec-tơ mang giá trị không. Vì vậy, việc biểu diễn hầu như chỉ liên quan đến một vài thành phần có giá trị khác không. Ví dụ mẫu ảnh có thể được biểu diễn bằng mô hình thưa như trong hình 1.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ảnh đa mức xám với biểu diễn thưa Khi đó, để lưu trữ và xử lý mẫu ảnh đã cho ta có thể sử dụng vec-tơ hệ số biểu diễn X sau: [a1,. Trong ví dụ này, vec-tơ hệ số được dùng để đại diện cho mẫu ảnh chỉ có ba thành phần có giá trị khác không, số lượng thành phần có giá trị khác không này sẽ đóng vai trò là ngưỡng đảm bảo thưa cho mô hình biểu diễn. Ngưỡng đảm bảo thưa này không có quy định rõ ràng về giá trị mà chỉ được lựa chọn tùy thuộc vào bài toán và dữ liệu cụ thể của bài toán đó.
Học từ điển Trong ngôn ngữ học, bộ từ điển được hình thành bao gồm tất cả các từ đơn, từ ghép, từ láy,. đủ để giúp diễn đạt mọi câu nói, viết trong ngữ pháp của ngôn ngữ đó. Trong học máy cũng có một mô hình có tên gọi tương tự đó là học từ điển. Với góc nhìn của toán học, nếu coi từ điển là một ma trận vecto trong đó mỗi thành tố hay từ là một vecto thì từ điển trong mô hình học từ điển giống như một hệ sinh vecto mà tại đó các thành tố hay các từ không đảm bảo độc lập tuyến tính với nhau.
Việc xác định từ điển sẽ được học từ chính những tín hiệu đầu vào và quá trình sinh là quá trình biểu diễn lại đối tượng bằng tập hợp các từ trong từ điển sao cho việc biểu diễn chính xác tín hiệu đầu vào hoặc gần “giống” tín hiệu đó. Mô hình học từ điển có thể có lịch sử hình thành từ những năm 1960 với sự ra đời của biến đổi nhanh Fourier (FFT). Ban đầu từ điển được tạo ra bằng các biến đổi miền của tín hiệu như biến đổi bước sóng, biến đổi wavelet [39],… Tuy nhiên những biến đổi đó không thực sự đem lại hiệu quả, thay vào đó, phương pháp học từ điển biểu diễn thưa lại đem lại những kết quả thuyết phục hơn. Khi từ điển có số từ nhiều hơn số chiều (tính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 over-complete) thì có thể dẫn tới một biểu diễn thưa và khi đó ta có mô hình học từ điển thưa.
Mô hình học từ điển, với ý nghĩa ban đầu dùng để biểu diễn tín hiệu (representation) [25], được ứng dụng cho các bài toán khôi phục dữ liệu (reconstruction) [18] , khử nhiễu [8,20] và mã hóa thưa (sparse coding), gần đây được mở rộng cho bài toán phân lớp (classification) [9,21,29,30,34]. Mô hình học từ điển và mã thưa Cho 𝑦1 , 𝑦2 , ., 𝑦𝑛 ∈ 𝑅𝑝 là tất cả n mẫu tín hiệu và Y ∈ 𝑅𝑝∗𝑁 là ma trận tín hiệu đầu vào với N tín hiệu đầu vào mà mỗi tín hiệu 𝑦𝑖 ∈ 𝑅𝑝 tương ứng với một cột của ma trận Y. Từ n mẫu tín hiệu xác định một ma trận D ∈ 𝑅𝑝∗𝐾 (p ≪ K) được gọi là từ điển cơ bản quá hoàn chỉnh (tính overcomplete) mà mỗi từ 𝑑𝑗 ∈ 𝑅𝑝. Một mẫu mới cần biểu diễn 𝑦𝑛𝑒𝑤 ∈ 𝑅𝑝.
Nếu tất cả các mẫu đã biết được sử dụng để biểu diễn tuyến tính cho mẫu mới thì mẫu mới phải được biểu diễn bằng: 𝑦𝑛𝑒𝑤 = 𝑥𝑛𝑒𝑤_1 𝑑1 + 𝑥𝑛𝑒𝑤_2 𝑑2 + ⋯ + 𝑥𝑛𝑒𝑤𝑛 𝑑𝑛 (1) X ∈ 𝑅𝐾∗𝑁 là ma trận hệ số với 𝑥𝑖 là hệ số tương ứng biểu diễn tín hiệu 𝑦𝑖 và phương trình (1) có thể được viết lại bởi phương trình sau: 𝑦𝑛𝑒𝑤 = 𝐷 ∗ 𝑥𝑛𝑒𝑤 (2) Khi đó, mô hình bài toán học từ điển thưa được thể hiện qua biểu thức (3) sau: 2 (3) argmin‖𝑌 − 𝐷𝑋 ‖22 𝑠𝑎𝑜 𝑐ℎ𝑜 ‖𝑥𝑖 ‖0 ≤ T và ‖𝑑𝑗 ‖2 = 1 𝐷 Trong đó, ‖. ‖0 là chuẩn 𝑙0 nhận giá trị số lượng phần tử khác không của vec-tơ. T là giá trị ngưỡng thưa được lựa chọn trước. Việc giải bài toán tối ưu (3) sẽ dẫn tới xác định được một phương pháp biểu diễn mới cho bộ tín hiệu đầu vào Y với không gian biểu diễn lớn hơn và có khả năng khôi phục lại tín hiệu Y thông qua từ điển D và hệ số biểu diễn X.
Quá trình học ra từ điển D và X từ chính dữ liệu ban đầu giúp cho việc biểu diễn lại dữ liệu ban đầu là hiệu quả. Quá trình này bao gồm hai nhiệm vụ: tìm D và xác định X. Việc tìm từ điển D sẽ được gọi là cập nhật từ điển và việc xác định X được gọi là xác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 định mã thưa. Thông thường ta sẽ cố định X trong khi cập nhật từ điển và khi xác định mã thưa thì từ điển D sẽ được cố định.
Vấn đề tìm lời giải cho phương trình tuyến tính (2) với quan điểm đại số tuyến tính, nếu không có bất kỳ ràng buộc nào được áp đặt đối với hệ số biểu diễn x thì phương trình (2) sẽ không có lời giải duy nhất. Với việc coi từ điển như một hệ sinh vec-tơ, với tính chất số chiều nhỏ hơn nhiều so với số từ (p ≪ K), theo lý thuyết hình học không gian, ta có vô số lời giải cho biểu diễn vec-tơ. Để giảm bớt khó khăn, các ràng buộc chuẩn hóa thích hợp được áp dụng cho hệ số biểu diễn [19]. Với phương pháp biểu diễn thưa thì yêu cầu đặt ra là giải pháp biểu diễn thu được phải thưa thớt.
Ràng buộc theo chuẩn 𝑙0 giúp cho bài toán có nghiệm đảm bảo tính chất thưa cho véc-tơ hệ số tìm được. Ta cũng có thể thay thế chuẩn 𝑙0 bằng chuẩn 𝑙1 để đảm bảo tính thưa cho mô hình học từ điển, tuy nhiên nếu sử dụng chuẩn 𝑙2 thì tính thưa sẽ không được bảo đảm.