Luận Văn Thạc Sĩ Về Nhận Dạng Chữ Nôm Sử Dụng Máy Véc Tơ Hỗ Trợ SVM

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu uet nhận dạng chữ nôm bằng máy véc tơ hỗ trợ svm, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Công Nghệ Thông Tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHỮ NÔM

1.1. Lịch sử và một số đặc điểm của chữ Nôm

1.2. Cấu tạo chữ Nôm

1.2.1. Chữ Nôm mượn nguyên dạng chữ Hán

1.2.2. Chữ Nôm được tạo trên cơ sở kết hợp hai chữ Hán

1.2.3. Chữ Nôm được tạo trên cơ sở kết hợp chữ Hán và chữ Nôm

1.3. Một số thống kê về chữ Nôm

1.4. Tổng kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHẬN DẠNG CHỮ NÔM

2.1. Nhận dạng ký tự quang học

2.2. Mô hình OCR chữ Trung Quốc

2.3. Các kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra

2.4. Bài toán nhận dạng chữ Nôm

2.5. Tổng kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MÁY VÉC-TƠ HỖ TRỢ (SVM)

3.1. Tổng quan về SVM

3.2. SVM tuyến tính

3.3. SVM phi tuyến

3.4. SVM cho bài toán phân đa lớp

3.5. Tổng kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI THUẬT KSVM CHO NHẬN DẠNG CHỮ NÔM

4.1. Giải thuật KSVM cho nhận dạng chữ Nôm

4.2. Phương pháp trích chọn đặc trưng trọng số vùng (Zoning)

4.3. Xây dựng bộ nhận dạng OVOF

4.4. Tạo mẫu đại diện

4.5. Phân cụm bằng K-Mean

4.6. Tổng kết chương 4

5. CHƯƠNG 5: THỰC NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ

5.1. Quy trình thực nghiệm

5.2. Xây dựng bộ dữ liệu thực nghiệm

5.3. Tiến hành thực nghiệm

5.3.1. Cách thực hiện

5.3.2. Kết quả thực nghiệm

5.4. Đánh giá kết quả

5.5. Tổng kết chương 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nhận Dạng Chữ Nôm Bằng Máy Véc Tơ Hỗ Trợ SVM

Nhận dạng chữ Nôm là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong công nghệ thông tin, đặc biệt là trong việc phát triển các hệ thống nhận dạng ký tự quang học (OCR). Chữ Nôm, một phần không thể thiếu trong di sản văn hóa Việt Nam, đang dần bị mai một. Việc áp dụng công nghệ máy học, đặc biệt là Máy Véc Tơ Hỗ Trợ (SVM), có thể giúp phục hồi và phát triển chữ Nôm, từ đó bảo tồn văn hóa dân tộc.

1.1. Lịch sử và sự phát triển của chữ Nôm

Chữ Nôm ra đời sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc, nhằm ghi lại tiếng nói của người Việt. Trong suốt nhiều thế kỷ, chữ Nôm đã được sử dụng rộng rãi trong văn học và hành chính. Tuy nhiên, sự phát triển của chữ Nôm đã gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc duy trì và phát triển các tài liệu viết bằng chữ Nôm.

1.2. Tầm quan trọng của việc nhận dạng chữ Nôm

Việc nhận dạng chữ Nôm không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và khai thác các tài liệu lịch sử. Hệ thống OCR cho chữ Nôm sẽ giúp số hóa và tra cứu các tài liệu quý giá, từ đó góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

II. Những Thách Thức Trong Nhận Dạng Chữ Nôm

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong công nghệ nhận dạng ký tự, việc nhận dạng chữ Nôm vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như độ chính xác, sự đa dạng trong cấu trúc chữ và thiếu dữ liệu huấn luyện là những khó khăn lớn cần được giải quyết.

2.1. Độ chính xác trong nhận dạng ký tự

Độ chính xác của các hệ thống OCR phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu huấn luyện. Chữ Nôm có nhiều biến thể và cách viết khác nhau, điều này làm cho việc nhận dạng trở nên khó khăn hơn. Các nghiên cứu hiện tại cần tập trung vào việc cải thiện độ chính xác của các mô hình nhận dạng.

2.2. Thiếu dữ liệu huấn luyện cho chữ Nôm

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc phát triển hệ thống nhận dạng chữ Nôm là thiếu dữ liệu huấn luyện. Các bộ dữ liệu hiện có thường không đủ lớn và đa dạng để huấn luyện các mô hình máy học hiệu quả.

III. Phương Pháp Nhận Dạng Chữ Nôm Bằng SVM

Máy Véc Tơ Hỗ Trợ (SVM) là một trong những phương pháp hiệu quả trong nhận dạng ký tự. SVM có khả năng phân loại tốt và có thể áp dụng cho bài toán nhận dạng chữ Nôm với nhiều lớp ký tự khác nhau.

3.1. Nguyên lý hoạt động của SVM

SVM hoạt động dựa trên nguyên lý tìm kiếm siêu phẳng tối ưu để phân loại các điểm dữ liệu. Trong bối cảnh nhận dạng chữ Nôm, SVM có thể được sử dụng để phân loại các ký tự dựa trên các đặc trưng đã được trích xuất.

3.2. Ứng dụng SVM trong nhận dạng chữ Nôm

Việc áp dụng SVM trong nhận dạng chữ Nôm đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng SVM có thể đạt được độ chính xác cao trong việc phân loại các ký tự Nôm, từ đó mở ra hướng đi mới cho việc phát triển hệ thống OCR cho chữ Nôm.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc áp dụng SVM trong nhận dạng chữ Nôm có thể mang lại nhiều kết quả tích cực. Hệ thống nhận dạng đã được thử nghiệm và cho thấy khả năng phân loại tốt các ký tự Nôm.

4.1. Kết quả thực nghiệm với SVM

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng SVM có thể đạt được độ chính xác lên đến 90% trong việc nhận dạng các ký tự Nôm. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của SVM trong việc phát triển hệ thống OCR cho chữ Nôm.

4.2. Ứng dụng trong nghiên cứu và giáo dục

Hệ thống nhận dạng chữ Nôm có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, từ nghiên cứu văn hóa đến giáo dục. Việc số hóa các tài liệu chữ Nôm sẽ giúp bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, đồng thời tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và giảng dạy.

V. Kết Luận và Hướng Phát Triển Tương Lai

Việc nhận dạng chữ Nôm bằng Máy Véc Tơ Hỗ Trợ (SVM) không chỉ là một nhiệm vụ công nghệ mà còn là một trách nhiệm văn hóa. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp mới để cải thiện độ chính xác và khả năng nhận dạng của hệ thống.

5.1. Tương lai của nhận dạng chữ Nôm

Tương lai của nhận dạng chữ Nôm phụ thuộc vào sự phát triển của công nghệ và sự quan tâm của cộng đồng. Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để cải thiện các hệ thống OCR cho chữ Nôm, từ đó bảo tồn văn hóa dân tộc.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc xây dựng các bộ dữ liệu lớn hơn và đa dạng hơn, cũng như cải thiện các thuật toán nhận dạng để đạt được độ chính xác cao hơn trong việc nhận dạng chữ Nôm.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, chúng tôi tìm hiểu tổng quan chữ Nôm, trong đó tập trung các yếu tố liên quan đến nhận dạng như cấu trúc chữ Nôm, số lượng từ Nôm không có hình trong bộ chữ tượng hình khác. Tiếp đó, trong chương 2, những nội dung về bài toán nhận dạng chữ Nôm được nêu ra trên cơ sở tìm hiểu các OCR nói chung và OCR dành cho chữ tượng hình về phương diện kết quả đạt được, mô hình và các giải thuật cần được tiếp tục nghiên cứu. Trong chương 3, chúng tôi tập trung tìm hiểu ý tưởng của SVM và đi sâu làm rõ nội dung liên quan nhiều đến luận văn là áp dụng SVM cho bài toán phân đa lớp, vốn là một trong những chủ để đang được quan tâm nhiều, đặc biệt khi áp dụng cho chữ Nôm có số chữ lớn. Trên cơ sở những kiến thức có được từ 3 chương đầu, chương 4 trình bày giải thuật KSVM cho bài toán nhận dạng chữ Nôm do tác giả đề xuất.

Để thực hiện đánh giá hiệu quả của KSVM, trong chương 5, chúng tôi đã trình bày các bước tiến hành xây dựng thực nghiệm và đánh giá KSVM. Do không được kế thừa từ kết quả nghiên cứu nào với chữ Nôm, nên luận văn tiến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành thực nghiệm từ bước đầu tiên là tự xây dựng kho cơ sở dữ liệu mẫu, đến phần mềm tách chữ, tiền xử lý cơ bản sau đó xây dựng kịch bản và tiến hành đánh giá. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN CHỮ NÔM 1.

Lịch sử và một số đặc điểmcủa chữ Nôm Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm lần đầu tiên thành chữ quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý.000 năm sau đó, từ thế kỷ 10 cho đến thế kỷ 20, một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chính được viết bằng chữ Nôm. Suốt 24 năm (từ 1788 đến 1802) dưới triều đại nhà Tây Sơn, toàn bộ các văn kiện hành chính được viết bằng chữ Nôm. Nói cách khác, chữ Nôm là công cụ duy nhất hoàn toàn Việt Nam ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ. Chữ Nôm là loại văn tự được người Việt sáng tạo ra trên cơ sở một loại văn tự khác, đó là chữ Hán, nhằm mục đích để ghi tiếng nói của người Việt.Chữ “Nôm‖có nghĩa là ―Nam‖, ý chỉ chữ của người Nam Việt.

Trước khi chữ Nôm ra đời, chúng ta mượn chữ Hán để ghi lại âm tiếng Việt. Tiếng Hán chỉ có 4 thanh, tiếng việt có 6 thanh, do đó việc đơn thuần mượn chữ Hán không đủ để phản ánh hết các thanh của tiếng Việt. Ví dụ các âm như: eo, ăn, ươi, on… Do đó, yêu cầu tất yếu cần bổ sung một hệ thống chữ để đáp ứng các yêu cầu ghi âm trong các hoạt động thi cử, văn hóa, pháp luật, xã hội…. Mặc dù được phát triển trong thời gian dài đến tận thế kỷ XX, song chữ Nôm không hoạt động độc lập mà được sử dụng đồng thời với những kiểu văn tự khác có trong cộng đồng người Việt, đặc biệt là chữ Hán.

Chữ Nôm hình thành trên cơ sở mượn chữ Hán, do đó mang trong mình những đặc điểm của chữ Hán và cũng có những đặc trưng riêng, có thể khái quát cơ bản những đặc điểm như sau: - Về mặt hình thức, chữ Nôm là một loại văn tự khối vuông tương tự như chữ Hán. Đây là loại văn tự mà mỗi chữ là một chỉnh thể vừa thể hiện và được phát âm như một âm tiết hoàn chỉnh, đồng thời bao giờ mỗi chữ như thế cũng có "nghĩa" xác định. Mặc dù về mặt hình thức, mỗi chữ khối vuông (chữ Hán, chữ Nôm) là một chỉnh thể hoàn chỉnh bao gồm nhiều nét kí hiệu được coi là kí hiệu gốc, trong đó có thể có những nét kí hiệu biểu âm, nhưng hầu như chúng chưa được nhiều người coi là loại chữ thuần tuý ghi âm. - Về mặt cấu trúc bên trong, khi phân tích loại chữ khối vuông này, người nghiên cứu vẫn có thể nhận ra rằng, về đại thể, mỗi một chữ thường có hai bộ phận hợp thành: bộ phận thể hiện ý nghĩa (còn gọi là nghĩa phù) và bộ phận thể hiện âm thanh (còn gọi là thanh phù).

Chúng tôi nói về đại thể là vì trong thực tế không phải chữ Nôm nào cũng tuân thủ điều đó mà có những chữ chỉ có thanh phù hoặc chỉ có nghĩa phù.Và điều quan trọng là tính "cố định" của những yếu tố đó mang tính tương đối, nó phụ thuộc vào thời gian lịch sử, vào tính địa phương và đôi khi phụ thuộc vào cá nhân người sử dụng chữ viết. Một vài ví dụ sau đây cho thấy những đặc điểm cấu tạo ấy của chữ: Chữ máy ("máy móc") gồm có mộc (ý) + mãi (âm) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com may ("may vá") y (ý) mai (âm) sông ("sông ngòi") thuỷ (ý) long (âm) Vấn đề hoàn toàn rõ ràng rằng chữ Nôm là một loại văn tự được xây dựng trên cơ sở chữ Hán, thậm chí từ chất liệu (các yếu tố cấu tạo là nghĩa phù và âm phù) cho đến phương thức cấu tạo. Nhưng điều quan trọng đối với chúng ta là chất liệu Hán ở đây là chất liệu Hán Việt. Tính Hán Việt biểu hiện rõ nét nhất là âm đọc của thứ văn tự này là âm Hán Việt, hay nói một cách khác là âm đọc chữ Hán của người Việt chứ không phải âm đọc chữ Hán theo kiểu người Hán.

Có lẽ chính nhờ đặc điểm quan trọng này mà chữ Nôm mới là thứ chữ ghi lại được tiếng nói của dân tộc ta ở vào thời kì tiếng Việt chưa có thứ chữ ghi âm. Như vậy, với những đặc điểm cơ bản như đã trình bày ở trên của chữ Nôm, chúng ta nhận thấy rõ ràng đó là một thứ chữ của người Việt dùng để biểu thị chuỗi lời nói của tiếng Việt trong giai đoạn trước đây. Để làm được điều đó, như rất nhiều công trình nghiên cứu về chữ Nôm đã xác nhận, nó cần phải có một điều kiện tiên quyết là cách đọc chữ Hán của người Việt mà chúng ta quen gọi là cách đọc Hán Việt (hay âm Hán Việt). Đặc điểm ngôn ngữ ấy đến lượt nó sẽ quy định thời điểm xuất hiện của chữ Nôm trong lịch sử tiếng Việt.

Cấu tạo chữ Nôm Hiện chưa có thống kê đầy đủ về các hình thức cấu tạo của chữ Nôm, trước đây có một số ý kiến cho rằng chữ Nôm là chữ bình dân nên không có quy tắc rõ ràng, chặt chẽ nhưng điều này không đúng sau nhiều nghiên cứu thống kê cho thấy chữ Nôm có quy tắc cấu tạo, hợp thành. Theo [27] thì chữ Nôm gồm 3 loại: Chữ Nôm mượn nguyên dạng chữ Hán, chữ Nôm được tạo trên cơ sở kết hợp hai chữ Hán, chữ Nôm được tạo trên cơ sở kết hợp một chữ Hán và một chữ Nôm. Chữ Nôm mượn nguyên dạng chữ Hán. Trong nhóm này, xét về mặt hình thì một chữ Nôm tương tự một chữ Hán, song có thể chia thành nhiều nhóm con do có thể khác nhau về âm đọc hoặc ý nghĩa.

Kết quả thể thống kê sơ bộ trong Bảng 1. Một số hình thức chữ Nôm mượn nguyên dạng chữ Hán STT Hình thức Ví dụ Đồng âm và đồng nghĩa với 頭 đầu ; 袄 áo 1 chữ Hán Đồng nghĩa nhưng khác âm Chữ 外 có âm Hán Việt “ngoại” và âm Nôm “ngoài” 2 theo nhiều mức độ: khác ít, Chữ 捲 quyển = cuốn, Nôm đọc cuốn khác nhiều và khác hẳn Chữ 味 vị = mùi, Nôm đọc mùi 3 Đồng âm nhưng khác nghĩa Chữ 沒 một = mất, Nôm đọc một = số 1; 1. Chữ Nôm được tạo trên cơ sở kết hợp hai chữ Hán Theo nguyên tắc này, mỗi chữ Nôm gồm có hai thành tố: một thành tố chỉ ý nghĩa và một thành tố chỉ âm đọc, âm đọc phải thật đúng hay gần đúng chữ dùng để chỉ âm. - 𠀧 ba (số 3) = (phần chỉ âm 巴 (ba)) + (phần chỉ nghĩa 三 (tam = ba)); - ㈒ tay = (phần chỉ nghĩa 手 (thủ = tay)) + (phần chỉ âm 西 (tây)); LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 嚂trăm (số 100) = (phần chỉ nghĩa 百(bách = trăm)) + (phần chỉ âm 林 (lâm)) - 𣎃tháng = nguyệt 月 (biểu ý) + thượng 尚 (biểu âm) - 眜mắt = mục 目 (biểu ý) + mạt 末 (biểu âm) - 𡗶trời= thượng 上 (biểu ý) + thiên 天 (biểu âm) - 𠄼năm (5) = ngũ (五 biểu ý) + nam (南 biểu âm) - 𢆥năm (năm tháng) = niên (年 biểu ý) + nam (南 biểu âm) Những ví dụ trên cho ta kết luận về vị trí của phần chỉ nghĩa thay đổi, không cố định có thể.Trong một số trường hợp người ta sử dụng phần chỉ nghĩa là một bộ thủ, các bộ thủ thường gặp trong cấu tạo chữ Nôm là: 亠﹐刂﹐イ﹐厂﹐广﹐氵, 忄﹐辶﹐土﹐寸﹐口﹐巾﹐山﹐犭﹐子﹐小﹐女﹐礻﹐灬﹐木﹐艹﹐日﹐月﹐牛﹐毛 ﹐片﹐牙﹐疒﹐瓦﹐石﹐衤﹐白﹐目﹐皮﹐田﹐米﹐耳﹐竹﹐舟﹐羽﹐雨﹐色﹐耒﹐ 糸﹐貝﹐走﹐足﹐車﹐角﹐酉﹐金﹐風﹐食﹐髟﹐馬﹐魚﹐赤.

Một số bộ thủ dùng trong chữ Nôm STT Bộ thủ Ví dụ 1 人 hoặc 亻(nhân / nhơn ) 佈 = người tớ già 2 冫 (băng ) mát ಭ = hơi lành lạnh 3 口 (khẩu) 㗂 tiếng = âm thanh phát ra 4 女 nữ 媽 mợ = vợ của cậu 5 心 hoặc 忄tâm 慳 ghen = đố kỵ 6 扌hoặc 手 thủ = tay 扲 cầm = giữ bằng tay 7 日 nhật / nhựt 㡥 lúc = buổi, hồi, thời 8 木 mộc = cây 槾 mận 9 火 hoả = lửa 䤋cháy Qua các ví dụ trên ta cũng nhận thấy, vị trí bộ thủ thay đổi ở nhiều vị trí, lúc thì ở bên trái (như 呐, nói), ở trên (như 摊, nong).Và quy tắc kết hợp ý và thanh cũng nhiều trường hợp ngoại lệ là cả hai đều chỉ ý nghĩa. Chữ Nôm được tạo trên cơ sở kết hợp chữ Hán và chữ Nôm Ví dụ như chữ “ 羆mành = màn để che” viết đúng là “ cân 巾(ý) + manh 萌 (âm)” nhưng phần chỉ ý bị bỏ sót chỉ còn có phần chỉ âm 萌. Tóm lại, chữ Nôm được tạo trên cơ sở chữ Hán, nhưng có nhiều sự thay đổi phù hợp để thể hiện âm và nghĩa. Do trong suốt quá trình hình thành và phát triển chưa có một lần nào được chuẩn hóa nên các hình thức thể hiện sự tạo chữ Nôm rất phong phú và đa dạng.

Theo [6] thì theo tiến trình phát triển của lịch sử, càng vềsaucáctácphẩmviết bằngchữNômcàngcóxuthế tăng dầnloạichữ tự tạovà giảm dầnloạichữnômvay mượnchữHán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ