Chương 1. Tổng quan: Nội dung chƣơng 1 trình bày tổng quan về chữ Nôm, lịch sử hình thành và phát triển chữ Nôm, mô hình tổng quan của hệ thống nhận dạng chữ Nôm. Mạng Nơ-ron: Nội dung chƣơng này trình bày tổng quan về mạng Nơ-ron, cách xây dựng mạng, đánh giá các yếu tố trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 quá trình huấn luyện mạng và tổng hợp một số phƣơng pháp nhận dạng chữ tƣợng hình dựa trên mạng Nơ-ron. Giải thuật di truyền: Chƣơng này giới thiệu về giải thuật di truyền, các thành phần của giải thuật di truyền.
Nhận dạng chữ Hán-Nôm dựa trên mạng nơ-ron kết hơn GA: Chƣơng này đề xuất một phƣơng pháp ết hợp giải thuật di truyền trong quá trình huấn luyện mạng Nơ-ron nhằm tìm ra bộ trong số tối ƣu cho mạng. Trình bày kết quả thực nghiệm nhận dạng 2970 chữ Hán-Nôm. Phần kết luận: Phần này trình bày những đóng góp của luận văn, những tồn tại, hạn chế chƣa đƣợc giải quyết và hƣớng giải quyết tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1.
Lịch sử ra đời chữ Nôm [1, 3] Cách cấu tạo chữ Nôm "có thể" đã manh nha ló dạng từ những năm đầu khi ngƣời Trung Hoa chinh phục đất Giao Chỉ(Miền Bắc Việt Nam) và đặt nền đô hộ trên các bộ lạc ngƣời Việt vào đầu Công nguyên. Vì ngôn ngữ khác biệt, những "chữ Nôm" đầu tiên xuất hiện vì nhu cầu ghi địa danh, tên ngƣời hoặc những khái niệm hông có trong Hán văn. Song chứng cứ còn lƣu lại hết sức ít ỏi, khó kiểm chứng đƣợc một cách chính xác. Phạm Huy Hổ trong "Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?" thì cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vƣơng.
Văn Đa cƣ sĩ Nguyễn Văn San lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ "bố cái" trong danh xƣng "Bố Cái đại vƣơng" do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hƣng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hƣng thế kỷ thứ 8. Ý kiến khác lại dựa vào chữ "cồ" trong quốc hiệu "Đại Cồ Việt" để cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới kết luận rằng âm Hán Việt (âm của ngƣời Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đƣờng-nhà Tống thế kỷ 8-9.
Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đƣờng, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trƣớc khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tƣ cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 hi ngƣời Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938. Mặc dù lịch sử hình thành chữ Nôm còn không ít vấn đề cần làm sáng tỏ, nhƣng về ý nghĩa của sự ra đời của chữ Nôm, các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận định rằng: trong suốt quãng thời gian tồn tại, chữ Nôm là công cụ duy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 nhất, hoàn toàn Việt Nam, ghi lại lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt. Sự hình thành và phát triển của chữ Nôm là bƣớc ngoặt trong lịch sử ngôn ngữ văn tự của ngƣời Việt và c ng là một bƣớc ngoặt trong lịch sử văn hóa Việt nam, chữ Nôm ra đời đáp ứng đòi hỏi của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tƣ, suy nghĩ và tình cảm của bản thân ngƣời Việt bắt nguồn từ ý thức phản vệ của dân tộc chống lại xu hƣớng Hán hóa của ngƣời phƣơng Bắc, khẳng định tinh thần dân tộc của ngƣời Việt. Chữ Nôm là cách viết biểu ý ngày xƣa của tiếng Việt.
Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm lần đầu tiên thành chữ quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý. Hơn 1000 năm sau đó - từ thế kỷ 10 cho đến thế kỷ 20 - chữ Nôm đã tạo nên những thành tựu rực rỡ làm phong phú ho tàng văn hóa Việt: văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo, điều mà trƣớc nó chữ Hán trên đất Việt không hề có đƣợc. Bắt đầu từ thế kỷ 15 với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, kế đến thế kỷ 16 với Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ Nôm đã chứng tỏ có nhiều khả năng diễn tả không những tình cảm mà còn tƣ tƣởng của ngƣời Việt. Chỉ tính riêng ở lĩnh vực văn học, chữ Nôm đã có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên một nền văn học Việt nam rực rỡ xuyên suốt nhiều thế kỷ.
Từ chữ Nôm, nền văn học Việt nam sinh ra ba thể loại độc đáo của riêng Việt nam là Truyện thơ Nôm Lục Bát, Ngâm Khúc (song thất lục bát) và Hát Nói (trong ca trù). Sự sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá. Tuy nhiên việc dùng chữ Nôm song song với chữ Hán chỉ đƣợc duy trì cho đến thế kỷ 16. Khi các nhà truyền đạo phƣơng Tây vào Việt Nam, họ đã dùng kí tự La Tinh để phiên âm tiếng Việt, và chữ Quốc ngữ dựa trên kí tự La Tinh đƣợc hình thành.
Mặc dù dễ học, dễ nhớ, việc dùng chữ Quốc ngữ sau đó chỉ phổ biến trong cộng đồng giáo dân trong phạm vi ghi chép Kinh Thánh chứ hông đƣợc sử dụng nhiều trong việc làm phƣơng tiện trứ tác hay truyền đạt thông tin. Chữ Nôm vì vậy vẫn là văn tự chính trong nền văn chƣơng Việt Nam mãi cho tới hết thế kỷ 19. Sang đầu thế kỷ 20 chính quyền Pháp cho giải thể phép thi cử chữ Nho (1915 ở Bắc Kỳ và 1919 ở Trung Kỳ) và đƣa chữ Quốc ngữ lên hàng văn tự chính thức. Bắt đầu từ năm 1908 chữ Quốc ngữ mới bắt đầu thay thế chữ Nôm.
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938) c ng nhƣ sự phát triển báo chí vào đầu thế kỷ 20 đã góp phần trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 việc thâu nhận chữ Quốc ngữ là văn tự chính đáng của ngƣời Việt, khép lại thời kỳ dùng chữ Nôm để truyền đạt tƣ duy cùng những cảm hứng của dân tộc Việt. Sau khi chữ quốc ngữ đƣợc phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Chính quyền thực dân Pháp có chính sách cấm dùng chữ Nôm. Điều đó hiến cho di sản này hiện nay có nguy cơ tiêu vong.
Thực tế là hiện nay, trên thế giới có chƣa đến 100 ngƣời đọc đƣợc chữ Nôm. Một phần to tát của lịch sử Việt Nam nhƣ thế nằm ngoài tầm tay của 80 triệu ngƣời nói tiếng Việt. Cấu tạo của chữ Nôm Dựa vào chữ Hán, chữ Nôm đã đƣợc hình thành bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó, có thể tóm tắt thành 5 loại dựa vào ba yếu tố hình-âm-nghĩa nhƣ sau: 1.1 Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán Chữ Hán đƣợc mƣợn cả âm và nghĩa để ghi lại các âm gốc Hán.
Âm đọc có ba loại là: - Âm Hán Việt tiêu chuẩn: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đƣờng. Ví dụ: "thành" 城, "hoa" 花, "thuyền" 船, "ngọc" 玉. - Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trƣớc thời Đƣờng. Ví dụ: "mùa" 務 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "vụ), "bay" 飛 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phi"), "buồng" 房 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phòng"), "xe" 車 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "xa").
- Âm Hán Việt Việt hoá: là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hƣởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ: "thêm" 添 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "thiêm"), "nhà" 家 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "gia"), "khăn" 巾 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "cân"), "ghế" 几 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "kỉ"), 1.2 Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm. Mƣợn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Mượn âm chữ Hán, không nhất thiết mượn nghĩa Mƣợn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt.
Âm mƣợn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hoá. Khi đọc có thể đọc giống với âm mƣợn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ: - Đọc chính xác âm Hán Việt tiêu chuẩn: chữ "một" 沒 có nghĩa là "chìm" đƣợc mƣợn dùng để ghi từ "một" trong "một mình", chữ "tốt" 卒 có nghĩa là "binh lính" đƣợc mƣợn dùng để ghi từ "tốt" trong "tốt xấu", chữ "xƣơng" 昌 có nghĩa là "hƣng thịnh" đƣợc mƣợn dùng để ghi từ "xƣơng" trong "xƣơng thịt", chữ "qua" 戈 là tên gọi của một loại binh hí đƣợc mƣợn dùng để ghi từ "qua" trong "hôm qua". - Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn: "gió" 這 (mƣợn âm "giá"), "cửa" 舉 (mƣợn âm "cử"), "đêm" 店 (mƣợn âm "điếm"), "chạy" 豸 (mƣợn âm "trãi").
- Đọc chính xác âm Hán Việt cổ: chữ "vạn" 萬 đọc là "muôn", chữ "tuế" 歲 đọc là "tuổi" 1.4 Ghép hai chữ Hán với nhau. Loại này hết sức phổ biến và thƣờng ghép một thành tố biểu âm với một thành tố biểu ý (giống nhƣ chữ hình-thanh trong Lục thƣ). Ví dụ:tháng = nguyệt 月 (biểu ý) + thƣớng 尚 (biểu âm); mắt = mục 目 (biểu ý) + mạt 末 (biểu âm); năm (con số) = ng (五 biểu ý) + nam (南 biểu âm); năm (năm tháng) = niên (年 biểu ý) + nam (南 biểu âm). Ngoài ra thỉnh thoảng c ng có những chữ ghép hai chữ Hán nhƣng cả hai đều biểu ý nhƣ trời= thiên 天 + thƣợng 上; sáng=quang 光 + minh 明.
Những chữ này hông nhiều. Thêm nét và thêm chữ Hán Ví dụ: Bố (đối lập với mẹ) = vƣơng 王 + bố 布 + nét giản lƣợc của 司) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thêm bộ thủ khác Ví dụ: 渃 nước (thủy 氵+ nhƣợc 若); 扜 vo [vo tròn] (thủ 扌+ vu 于); Phật (nhân イ+ thiên 天). Các bộ thủ thƣờng đƣợc dùng là: 亠, 刂, イ, 厂, 广, 氵, 忄, 辶, 土, 寸, 口, 巾, 山, 犭, 子, 小, 女, 礻, 灬, 木, 艹, 日, 月, 牛, 毛, 片, 牙, 疒, 瓦, 石, 衤, 白, 目, 皮, 田, 米, 耳, 竹, 舟, 羽, 雨, 色, 耒, 糸, 貝, 走, 足, 車, 角, 酉, 金, 風, 食, 髟, 馬, 魚, 赤.5 Thêm, bớt các nét Ví dụ: 女< nỡ, nợ, nữa (bằng dấu < cộng với chữ 女 nữ); 馬< mỡ, mựa (dấu < cộng với chữ 馬 mã).