phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày với kết cấu 3 chương như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị công ty niêm yết và các nguyên tắc quản trị công ty của OECD. 4 z Chƣơng 2: Thực trạng việc tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật về quản trị công ty niêm yết của Việt Nam. Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam. CHƢƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD 1.
Khái niệm, vai trò của QTCT niêm yết 1. Khái niệm QTCT Ngạn ngữ Châu Phi có câu “If you want to go fast, go alone; if you want to go far, go together” (“muốn đi nhanh, hãy đi một mình; muốn đi xa, hãy đi cùng nhau”). Để có thể phát triển hoạt động sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh, thu về lợi nhuận 5 z tốt nhất, thương nhân không thể “đi một mình”. Và khi “đi cùng người khác, doanh nghiệp tất yếu phải chuyển từ “quản trị theo cảm tính” sang “quản trị theo khoa học”; phải chuyển từ thể chế “gia đình trị” sang “cơ chế trị”.
Và một trong những con đường tối ưu cho việc chuyển đổi này là nghiên cứu và áp dụng “Corporate Governance” / CG (Cơ chế Quản trị Công ty). Vậy CG là gì? Hiện chưa có khái niệm chính thức, thống nhất cho CG. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, đó là do sự khác nhau giữa nguồn gốc các thể chế pháp luật, đặc tính văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi quốc gia; “đó cũng do CG bao trùm lên một số lượng lớn các hiện tượng kinh tế khác biệt nhau, dẫn tới, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại có thể đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “Corporate Governance”” [24, tr2]. Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu về Corporate Governance: “Corporate Governance là một lĩnh vực kinh tế học nghiên cứu cách thức động viên quá trình quản trị hiệu quả của các doanh nghiệp bằng việc sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, ví dụ hợp đồng, cấu trúc tổ chức và quy chế- quy tắc.
Corporate Governance thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, bằng cách nào người chủ sở hữu doanh nghiệp động viên các giám đốc họ sử dụng vận hành để đem lại lợi suất đầu tư hiệu quả hơn” [24, tr9]. “Corporate Governance giải quyết vấn đề thách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình để có thể thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của mình” [24, tr9]. “Corporate Governance có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là mối quan hệ của một doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp với xã hội…” [24, tr9]. Còn theo Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Quản trị công ty lại là “những cơ cấu, những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”.
Trong cuốn “Các nguyên tắc quản trị công ty” (OECD Principle of Corporate Governance) xuất bản năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra một định nghĩa chi tiết về CG như sau: 6 z “QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty (.), liên quan tới mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan. QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. QTCT chỉ được coi là có hiệu quả khi khích lệ được Ban Giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn”. Trong cuốn “Cẩm nang quản trị công ty” (xuất bản năm 2010) IFC đã khái quát đặc điểm của QTCT như sau: * Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình [11, tr6]: Đó là mối quan hệ giữa chủ sở hữu với người làm công, giữa người quản lý và người điều hành, và mối quan hệ giữa chính doanh nghiệp với xã hội, cộng đồng.
Điển hình cho mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người làm công là mối quan hệ giữa cổ đông và Ban Giám đốc công ty khi các cổ đông cung cấp vốn cho doanh nghiệp (trực tiếp là Ban Giám đốc) nhằm thu về lợi nhuận; và ngược lại, Ban Giám đốc có trách nhiệm duy trì hoạt động kinh doanh, nhằm đem về cho cổ đông khoản lợi nhuận mong muốn. Cổ đông của công ty cũng có mối quan hệ với HĐQT, Ban kiểm soát (BKS) khi họ bầu ra các cơ quan này nhằm đại diện cho quyền lợi của mình, giám sát hoạt động của Ban Giám đốc. HĐQT, BKS đưa ra định hướng chiến lược cho Ban Giám đốc và giám sát hoạt động của Ban Giám đốc; đến lượt mình, HĐQT, BKS lại chịu trách nhiệm trước các cổ đông thông qua ĐHĐCĐ [11, tr7]. Ngoài ra, bên cạnh các mối quan hệ nội tại của doanh nghiệp, mỗi công ty lại có sự tương tác với xã hội, cộng đồng xung quanh, đó là mối quan hệ giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, giữa con nợ và chủ nợ, giữa một tổ chức với môi trường mà tại đó tổ chức này hoạt động.
Các mối quan hệ này thường được thể hiện thành các quy chế, quy trình, và tổng hòa tất cả cùng làm nên quản trị công ty. 7 z * Các mối quan hệ trong công ty có thể liên quan tới các bên có lợi ích khác nhau, thậm chí, xung đột nhau [11, tr7]: Điển hình cho sự mâu thuẫn này là mối quan hệ giữa cổ đông và Ban Giám đốc. Có thể thấy, hai nhóm cơ bản trong QTCT là “nhóm cung cấp tài chính và nhóm điều hành doanh nghiệp” [39]. Trong khi chủ sở hữu lo sợ sự thất thoát tài sản, sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn đã đầu tư, do đó, họ luôn muốn kiểm soát các hoạt động của nhóm điều hành; về phía nhóm điều hành, sự kiểm soát của chủ sở hữu lại làm hạn chế quyền ra quyết định của họ đối với hoạt động hàng ngày của công ty.
Sự xung đột cũng xảy ra khi nhóm điều hành sử dụng cơ hội kinh doanh để giành lấy cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức khác những lợi ích lẽ ra là của công ty. * Các bên trong các mối quan hệ đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát công ty [11, tr7]: Như trên đã nói, các bên trong QTCT có thể có những lợi ích khác nhau, và để thực hiện, cũng như bảo vệ lợi ích đó, phương tiện họ sử dụng chính là quyền kiểm soát công ty. Cổ đông, những người chủ sở hữu doanh nghiệp, trực tiếp bỏ vốn nhưng lại không trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, do đó, để đảm bảo đồng vốn của mình bỏ ra được sử dụng một cách hiệu quả, các cổ đông thường có xu hướng tìm cách tăng cường sự kiểm soát đối với Ban Giám đốc. Trong khi đó, Ban Giám đốc, với tư cách là chủ thể trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, điều đầu tiên họ cần đó là quyền được chủ động ra quyết định đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chưa kể, quyền kiểm soát doanh nghiệp cũng là một phương tiện để Ban Giám đốc lợi dụng cơ hội kinh doanh của công ty nhằm thu lời cá nhân.
* Mục đích cuối cùng của các bên trong quản trị công ty là nhằm phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp, qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông [11, tr8]: Mỗi doanh nghiệp là một tổ chức gồm nhiều người, trong đó, các thành viên tham gia luôn ý thức về vai trò, nhiệm vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trong quá trình tham gia hoạt động của đơn vị. “Tổ chức” theo từ gốc Hy Lạp “Organon” nghĩa là “hài hòa”, do đó, cũng như các “tổ chức” khác, các bên tham gia QTCT dù có những lợi ích khác nhau, dù hướng tới việc 8 z tăng cường sự kiểm soát của mình đối với doanh nghiệp, cũng đều nhắm tới mục đích cuối cùng là phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp, từ đó, thực hiện mục tiêu chung của công ty, đó là đem lại lợi nhuận lớn nhất. Vai trò của quản trị công ty hiệu quả 1 1.2 Theo đánh giá của IFC, quản trị công ty tốt đem đến những hiệu quả sau: - Thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh [11, tr17]; - Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn [11, tr18]; - Giảm chi phí vốn [11, tr19]; - Nâng cao uy tín doanh nghiệp [11, tr21]. Sở dĩ IFC đánh giá cao vai trò của QTCT bởi, với các quy định khá chặt chẽ, yêu cầu cao về chất lượng của hoạt động báo cáo, công bố thông tin, QTCT hiệu quả giúp những người chủ doanh nghiệp nắm bắt được tình hình hoạt động của công ty một cách kịp thời, đầy đủ, từ đó giúp cho việc đưa ra các quyết định đầu tư, kinh doanh được chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.
Mặt khác, thông tin dù tích cực hay không cũng vô cùng quan trọng trong việc giúp các cổ đông, nhà đầu tư đưa ra quyết định kinh doanh của mình. Đặc biệt, trên thị trường chứng khoán, thông tin được đánh giá là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư. Do đó, các doanh nghiệp càng thực hiện đầy đủ, hiệu quả hoạt động QTCT, tức là đảm bảo được sự minh bạch thông tin, càng có cơ hội tiếp cận với thị trường vốn, đồng thời, trả lãi suất thấp hơn và có được những khoản tín dụng có kỳ hạn dài hơn, bởi lẽ “chi phí vốn phụ thuộc vào mức độ rủi ro của công ty theo cảm nhận của nhà đầu tư: rủi ro càng cao thì chi phí vốn càng cao” [11, tr19].