Chương 1: Khái quát về nguồn và cơ sở của việc thiết lập nguồn ở tỉnh Bình Định thế kỷ XIX (17 trang). 10 Chương 2: Triều Nguyễn thiết lập và thực hiện chức năng nguồn ở tỉnh Bình Định thế kỷ XIX (25 trang). Chương 3: Nhận xét về nguồn ở tỉnh Bình Định thế kỷ XIX (18 trang). KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC THIẾT LẬP NGUỒN Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH THẾ KỶ XIX 1.
Nguồn ở Việt Nam thế kỷ XV-XIX 1. Các quan điểm về nguồn ở Việt Nam Theo “Từ điển Hán Nôm”, nguồn có âm Hán Việt là “nguyên” (chữ Hán 源) có nhiều cách hiểu khác nhau. Một là nguồn nước; hai là nguồn, ngọn, như uống nước nhớ nguồn; ba là gốc, căn bản, ví như: Tiên sinh biết gốc bệnh của tôi, vậy phải dùng thuốc gì trị được?; bốn là nguyên, nguồn, luồng như nguồn hàng, nguồn phân; năm là phó từ cuồn cuộn, nối tiếp nhau, liên tiếp không lúc nào dứt gọi là nguyên nguyên [70]. Theo “Từ điển tiếng Việt”, nguồn được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nguồn là nơi bắt đầu của sông, suối: nguồn sông, nơi đầu nguồn; Thứ hai, nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc là nơi có thể cung cấp: nguồn bệnh, nguồn vốn, khơi nguồn cảm xúc [63; tr.
Andrew Hardy xem nguồn có từ thời Champa, kéo dài đến tận thời Nguyễn. Theo ông, “nguồn” có ba chức năng chính. Đây trước hết là một cái chợ, nối bằng đường sông xuống đồng bằng và bằng đường mòn lên miền núi. Thứ hai, là địa điểm đánh thuế hàng hoá, nơi đây có sự hiện diện của quân đội.
Cuối cùng, đây là một đơn vị hành chính, gần tương đương với một tổng ở đồng bằng. Chức năng chủ yếu và rõ ràng là lâu đời nhất của “nguồn” là kinh tế, có niên đại từ thời Champa. Dưới thời các chúa Nguyễn, chức năng kinh tế tiếp tục làm nền tảng cho những chức năng khác. Hoạt động chủ yếu của quan lại triều đình là đánh thuế hàng hoá trong khi các đồn là để bảo vệ cả hoạt động buôn bán lẫn các nguồn thuế mà nó sinh ra.
Không còn chức năng kinh tế, các hoạt động khác sẽ trở thành dư thừa [1]. Như vậy, Andrew Hardy vẫn xem nguồn có chức năng hành chính, một đơn vị hành chính, nhưng đây là chức năng phụ, chức năng kinh tế vẫn là chức năng chính, bao trùm, quy định sự tồn tại và hoạt động của nguồn. Nguồn là một biểu hiện của “mô hình kinh tế hậu Champa”. 12 Một số nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh nguồn là một đơn vị hành chính, chức năng hành chính là chức năng quan trọng.
Nhà sử học Lê Quý Đôn khẳng định: “Ở thượng lưu gọi là nguồn cũng như ở hạ lưu gọi là tổng”[12; tr. Như vậy, nguồn là đơn vị hành chính ở miền núi tương đương cấp tổng đồng bằng. Đỗ Bang cũng cho rằng: “nguồn là đơn vị hành chính ở miền núi tương đương cấp tổng”, ngoài chức năng quản lý nhà nước được quân sự hoá để đảm bảo trị an vùng núi; còn là nơi giao dịch buôn bán, nơi nhà nước đặt ra để thu thuế [3; tr. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh nguồn là “đơn vị hành chính đặc biệt”.
Theo Nguyễn Công Thành cho rằng: Nguồn là một “đơn vị hành chính đặc biệt” được các vương triều phong kiến Việt Nam thiết lập chủ yếu ở vùng núi các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa từ thế kỷ XVI-XIX, nó đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau như chức năng hành chính, chức năng kinh tế, chức năng quân sự [49]. Như vậy, chức năng hành chính là chức năng chủ yếu để nhận diện nguồn. Tuy nhiên, do thực hiện những chức năng khác, cho nên nguồn khác với các đơn vị hành chính cấp cơ sở đương thời. Trái ngược với quan điểm trên, Nguyễn Thanh Quang cũng xem nguồn là một đơn vị hành chính đặc biệt, ngoài chức năng hành chính, tác giả nhấn mạnh chức năng kinh tế của nguồn là quan trọng, đồng nghĩa với việc nhận thức nguồn theo quan điểm của Andrew Hardy [26].
Lược sử nguồn ở Việt Nam thế kỷ XV-XIX Theo Andrew Hardy nguồn là vị trí họp chợ quan trọng trong “mô hình kinh tế Champa” [1]. Thật vậy, trong thời kỳ phát triển của vương quốc Champa, nhất là thời kỳ Vijaya (thế kỷ XI-XV), vương quốc Champa có mối quan hệ chặt chẽ với các dân tộc thiểu số vùng cao miền Trung và tiểu quốc ở Tây Nguyên (như Hỏa xá, Thủy xá), đó là mối quan hệ thương mại, cũng có thời kỳ là quan hệ thần phục, cống nộp, thống trị. Dựa trên “mô hình kinh tế” này, người Champa đã tiến hành trao đổi hàng hóa với người Thượng. Đối với Đại Việt, các sử liệu cho biết, nguồn được hình thành ở thế kỷ XV.
Dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), để củng cố quyền lực và tăng cường sự quản lý của nhà nước, cùng với việc thống nhất các đơn vị 13 hành chính, Lê Thánh Tông chia cả nước làm 13 đạo, dưới đạo là phủ, huyện, châu, cùng các đơn vị cơ sở như hương, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường. Theo Lê Quý Đôn, năm thứ 21, Canh Tuất (1490), tháng 4, định bản đồ Thiên hạ làm 13 xứ Thừa Tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6.851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường [12; tr. Trong các nguồn đó, có nguồn Cam Lộ, nguồn Sái (tỉnh Quảng Trị) và một số nguồn khác còn được sử cũ chép lại. Cũng theo Lê Quý Đôn, hai nguồn này vốn có từ trước, thời Hồng Đức có lệ cống sản vật, vốn gọi là “nguyên” đến thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) cho đổi “nguyên” thành “nguồn” [12; tr.
Lê Thị Quý cũng cho biết, năm 1466, huyện Kim Trà (thuộc Hóa Châu) có 3 nguyên [28], tuy nhiên tên gọi các nguyên không được tác giả đề cập tới. Dưới triều Lê Trung Hưng, nguồn vẫn được duy trì. Ví như tại Quảng Ngãi, năm 1545, Bùi Tá Hán được vua Lê Trang Tông phong làm Bắc quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, trấn nhậm thừa tuyên Quảng Nam, để tổ chức quản lý và thu thuế vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Ngãi, Ông đã cho lập ra 4 nguyên: Đà Bồng (còn gọi là Thanh Bồng) và Cù Bà (Thanh Cù) trong huyện Bình Sơn; Phù Bà (Phụ An) huyện Chương Nghĩa; Ba Tơ (An Ba) huyện Mộ Đức [20; tr.198], đồng thời đặt các chức quan để trông coi. Sang thời kỳ các chúa Nguyễn, kế thừa đơn vị nguồn của nhà Lê, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý lãnh thổ ngày càng mở rộng và vùng miền núi rộng lớn, trải dài ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, các chúa Nguyễn đã duy trì các nguồn cũ, lập ra các nguồn mới, xem đó vừa là giải pháp quản lý, thu thuế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vừa là chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, củng cố vương triều.
Theo đó nguồn được lập chủ yếu ở các phủ từ Quảng Trị đến Diên Khánh (Khánh Hòa). Ngoài ra ở phủ Gia Định, các chúa Nguyễn còn lập ra nguồn Ba Can (Bao Bình) và Băng Vọt. Theo thống kê chưa đầy đủ của Lê Quý Đôn, ở khu vực miền Trung và Gia Định có tất cả 40 nguồn: phủ Quảng Bình: 5 nguồn, phủ Triệu Phong (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế): 11 14 nguồn; Thăng Hoa (Quảng Nam): 5 nguồn; Quảng Ngãi: 4 nguồn; Quy Nhơn: 6 nguồn; Phú Yên: 4 nguồn; Bình Khanh và Diên Khánh (Khánh Hòa): 3 nguồn, Gia Định: 02 nguồn. Thể hiện trong bảng thống kê sau: Bảng 1.1: Thống kê số lượng, tên gọi các nguồn thời các chúa Nguyễn [12; tr.258-271] TT Phủ Số lượng Tên gọi nguồn 1 Quảng Bình 5 Cơ Sa, Kim Linh, Cẩm Lý, An Náu, An Đại Nguồn O, Nguồn Sái, Tôi Ôi, Viên Kiệu, Ba 2 Triệu Phong 11 Hy, Tầm Ngầm, Sơn Bồ, Tả Trạch, Hữu Trạch, Phù Âu, Hưng Bình 3 Thăng Hoa 5 Cu Đê, Lỗ Đông, Ô Da, Thu Bồn, Chiên Đàn 4 Quảng Ngãi 4 Bà Rịa, Ba Tơ, Cù Bà, Đà Bồng Hà Nghiêu, Trà Đinh, Trà Vân, Ô Kim, Cầu 5 Quy Nhơn 6 Bông, Đá Bàn 6 Phú Yên 4 Hà Di, Nam Bàn, Suối Gạo, Đá Bạc Bình Khang, 7 3 Đồng Hương, Đồng Nhưng, Nha Trang Diên Khánh 8 Gia Định 2 Ba Can (Bao Bình), Băng Vọt Dựa vào ghi chép của Lê Quý Đôn, cho chúng ta tiếp cận sâu hơn về nguồn thời chúa Nguyễn như, chính quyền đã đặt các chức quan phụ trách; quy định về các hình thức thu thuế, các loại thuế, số lượng thuế; một số thương phẩm đặc trưng ở một số nguồn.
Dưới thời kỳ Tây Sơn, sử liệu hiện còn không nói rõ cách thức tổ chức, quản lý các nguồn của các vương triều Tây Sơn. Có lẽ các nguồn vẫn được duy trì nhằm quản lý và thu thuế. Trong đó quan trọng hơn cả là thông qua nguồn để tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng họ thành một lực lượng quan trọng cho cuộc khởi nghĩa và sự nghiệp của nhà Tây Sơn. Thế kỷ XIX, nguồn vẫn được triều Nguyễn thiết lập, nhưng thu hẹp về 15 địa phương so với thời kỳ các chúa Nguyễn.
Nguồn được thiết lập ở vùng núi các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa. Các nguồn sử liệu thời Nguyễn không thấy đề cập tới đơn vị nguồn trên vùng đất từ Bình Thuận trở vào Nam, chứng tỏ các nguồn ở Gia Định có từ thời kỳ các chúa Nguyễn đã bị xóa bỏ. Mặc dù địa bàn thu hẹp, số lượng giảm tùy từng địa phương, nhưng được tăng cường về chức năng hành chính, quân sự. Nguồn thời Nguyễn được chi chép trong nhiều nguồn sử liệu, giữa các nguồn sử liệu có sự không thống nhất về số lượng, tên gọi.
Sách “Đại Nam nhất thống chí” (bản Tự Đức), cho biết, vào nửa sau thế kỷ XIX, số lượng ở các địa phương ngày càng giảm, một số nguồn bị bãi bỏ, địa bàn giao cho huyện quản lý. Ví như ở Thừa Thiên, có các nguồn Hưng Bình, Phù Âu (Du Mộc), Cam Lộ, Trấn Lao về sau đều bị bãi bỏ và đổi thành bảo [29; tr. Cụ thể, từ Quảng Bình đến Khánh Hòa triều Nguyễn còn duy trì 31 nguồn, thể hiện trong bảng thống kê sau: Bảng 1.2: Thống kê số lượng, tên gọi các nguồn thời Nguyễn [29],[30],[31] Tỉnh Số lượng Tên gọi TT nguồn 1 Quảng Bình 4 Kim Linh, Sa Cơ, An Náu, Cẩm Lý Tả Trạch, Hữu Trạch, Sơn Bồ, O Lâu, 2 Thừa Thiên 5 Tho Lay Cu Đê, Lỗ Đông, Ô Da, Thu Bồn, Chiên 3 Quảng Nam 6 Đàn, Hữu Bang 4 Quảng Ngãi 4 Thanh Bồng, Thanh Cù, Phụ An, An Ba Hà Thanh, Trà Bình, Trà Vân, Phương 5 Bình Định 7 Kiệu, Thạch Bàn, Lộc Động, An Tượng.