Chương 1 cũng trình bày chi tiết cấu trúc của đề tài nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: chương này trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết của mô hình thành công của hệ thống thông tin, lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ, và những nghiên cứu liên quan. Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, tác giả đề xuất toàn bộ các khái niệm của mô hình nghiên cứu, và biện luận các lý do hình thành các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu: chương này trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu một cách chi tiết như cách thức xây dựng thang đo, phương pháp thu thập dữ liệu - cách thức lấy mẫu, và phương pháp phân tích dữ liệu.
Trong chương này cũng trình bày chi tiết các thang đo của nghiên cứu. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: chương này trình bày toàn bộ các kết quả phân tích dữ liệu của nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức bao gồm cả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu. Cụ thể, các kết quả kiểm định thang đo và mô hình như phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định, và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính theo phương pháp Bayes để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, việc thảo luận kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết cũng được diễn giải một cách chi tiết.
Chương 5 - Kết luận và kiến nghị: chương này tóm lược toàn bộ đề tài nghiên cứu cùng với các đóng góp của nghiên cứu về các mặt lý thuyết và về mặt thực tiễn. Bên cạnh đó, chương 5 còn đưa ra các hàm ý quản trị từ các kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, những hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được trình bày. 4 Ý định tiếp tục sử dụng thương mại di động Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Trong đó, bao gồm giới thiệu tổng thể về thương mại di động, các cơ sở lý thuyết về sự thành công của hệ thống thông tin, sự chấp nhận và sử dụng công nghệ và các nghiên cứu có liên quan. Dựa trên cơ sở lý thuyết, một mô hình lý thuyết về ý định tiếp tục sử dụng thương mại di động được đề xuất.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.1 Thương mại di động 2.1 Định nghĩa Thương mại di động (m-commerce) đề cập đến các hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua mạng viễn thông không dây (Zhang & cộng sự, 2012). Với sự phổ biến rộng rãi của các thiết bị di động (v., điện thoại thông minh, máy tính xách tay, máy tính bảng…), cũng như các công nghệ di động ngày càng mạnh mẽ, thương mại di động đã và đang nổi lên như một hiện tượng kinh doanh mới và trở thành một thị trường tiềm năng rất lớn. Thương mại di động cung cấp các dịch vụ ngày càng mở rộng, bao gồm ngân hàng di động, tiếp thị di động và các dịch vụ khác (Lee, 2008).
Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực đề xuất và kiểm định các mô hình thương mại di động như các dịch vụ ngân hàng di động (v., Kleijnen & cộng sự, 2003), giao dịch di động (v., Khalifa & Shen, 2008), dữ liệu lớn (v., Saritas & cộng sự, 2023). Các ứng dụng thương mại di động có đặc điểm là tính di động và phạm vi tiếp cận rộng, mọi người có thể tiếp cận bất cứ lúc nào thông qua thiết bị di động, việc sử dụng các thiết bị di động như điện thoại thông minh cho phép người tiêu dùng mua sắm trực tuyến thuận tiện mọi lúc mọi nơi (Okazaki & Mendez, 2013). Với tính năng độc đáo của điện thoại thông minh là chức năng truyền thông tin vị trí, cho phép các nhà cung cấp dịch vụ dựa trên vị trí (Junglas & cộng sự, 2008). 6 Ý định tiếp tục sử dụng thương mại di động 2.2 Ưu điểm của thương mại di động Một trong những ưu điểm chính của thương mại di động là dễ dàng truy cập, khách hàng có thể sử dụng các ứng dụng di động để nhanh chóng truy cập các cửa hàng bán lẻ trực tuyến ưa thích và nhanh nhất, có thể mang lại lợi ích cho người sử dụng về tính dễ tiếp cận và tính khả dụng của các dịch vụ thương mại di động, từ bất cứ đâu và bất cứ khi nào (Luet & cộng sự, 2009).
Bên cạnh đó, người sử dụng không cần phải đi đến cửa hàng, trong khi các ứng dụng dành cho thiết bị di động giúp tiết kiệm thời gian và công sức của khách hàng với người tiêu dùng hiện đại, người sử dụng có quyền truy cập vào cửa hàng mua sắm trực tuyến mà không bị giới hạn không gian và thời gian (Keng & cộng sự, 2001). Nhược điểm của thương mại di động Hạn chế của thương mại di động là vấn đề rủi ro giao dịch, thương mại di động cần phải đầu tư rất lớn về chi phí và thời gian để triển khai và vận hành, các kỹ thuật thay đổi tổ chức và hệ thống lớn để định vị lại tổ chức với chiến lược rất phức tạp và tốn kém (Nguyen & cộng sự, 2018). Mặc khác, các nhà sản xuất phần cứng liên tục ra đời với tốc độ nhanh hơn và tốt hơn so với điện thoại thông minh, các công ty thương mại điện tử cần phải bắt kịp xu hướng này để tận dụng tối đa những nâng cấp về phần cứng và phần mềm, điều này có nghĩa là các ứng dụng thương mại di động không thể đi sau trong cuộc đua công nghệ (Chonker & cộng sự, 2020).1 Sự thành công của hệ thống thông tin Mô hình sự thành công của hệ thống thông tin (D&M) được giới thiệu bởi Delone & McLean (1992) dựa trên ba cấp thông tin của Shannon & Weaver (1948) và mở rộng về truyền thông của Mason (1978), cùng với việc tổng hợp và đánh giá các bài nghiên cứu về sự thành công của hệ thống thông tin. Delone & McLean (1992) đã chỉ ra rằng sự thành công của hệ thống thông tin có thể được đánh giá dựa trên chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin, hai yếu tố này có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của người sử dụng và việc sử dụng hệ thống của doanh nghiệp.
Theo Delone 7 Ý định tiếp tục sử dụng thương mại di động & McLean (1992), khi các doanh nghiệp ngày càng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngày càng nhiều, các nhà quản lý muốn đánh giá mức độ thành công của các hệ thống thông tin do tổ chức của mình triển khai. Để đo lường và đánh giá sự thành công của một hệ thống thông tin, các mô hình nghiên cứu đã được xây dựng như mô hình của DeLone & McLean (1992) và các nghiên cứu có liên quan. Mô hình của DeLone & McLean (1992) được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm - trên cả hai góc độ cá nhân và tổ chức. Mô hình thành công của hệ thống thông tin cập nhật (D&M cập nhật) của DeLone & McLean (2003) được phát triển từ mô hình gốc của DeLone & McLean (1992), trong đó bổ sung yếu tố chất lượng dịch vụ - được cung cấp bởi nhà cung cấp và sự hỗ trợ này không chỉ dành cho bộ phận hệ thống thông tin mà còn dành cho các bộ phận khác.
DeLone & McLean (2003) cũng cho thấy chất lượng có ba yếu tố chủ yếu là chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống và chất lượng dịch vụ, mô hình cũng bổ sung thêm ý định sử dụng - việc sử dụng một hệ thống thông tin giúp người sử dụng cảm nhận được chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của người sử dụng sẽ tác động tích cực đến cảm nhận về chất lượng do hệ thống mang đến. Mô hình DeLone & McLean (2003) đã loại bỏ ảnh hưởng cá nhân và ảnh hưởng tổ chức và thay thế chúng bằng lợi ích ròng, bổ sung thêm vào mô hình các phản hồi giữa ý định sử dụng và sự hài lòng của người sử dụng.2 Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được giới thiệu bởi Davis (1989), là sự điều chỉnh từ lý thuyết hành vi dự định (TRA) của Fishbein & Ajzen (1975) nhằm đo lường sự chấp nhận của người sử dụng đối với hệ thống thông tin. Theo Davis (1989), người sử dụng chấp nhận công nghệ dựa trên nhận thức dẫn đến ý định và hành vi, ba thành phần quan trọng trong TAM bao gồm các nhận thức dễ sử dụng, sự hữu ích và thái độ đối với việc sử dụng. Davis (1989) cũng cho rằng hệ thống công nghệ đổi mới được coi là dễ sử dụng hơn và ít phức tạp hơn sẽ có nhiều khả năng được chấp nhận và được sử dụng bởi người sử dụng tiềm năng.
Theo Davis (2019), TAM dựa trên quan điểm của thái độ của người sử dụng có tác động đến sự chấp nhận hay từ chối sử dụng công nghệ thông tin. 8 Ý định tiếp tục sử dụng thương mại di động Lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng (UTAUT2) của Venkatesh & cộng sự (2012) được phát triển từ lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ gốc (UTAUT) của Venkatesh & cộng sự (2003). Mục tiêu của lý thuyết UTAUT2 nhằm dự đoán hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ của cá nhân hay tổ chức, lý thuyết UTAUT2 có thể đã khắc phục được sự không toàn diện của lý thuyết TRA của Fishbein & Ajzen (1975), lý thuyết TPB của Ajzen (1991), mô hình TAM của Davis (1989), và lý thuyết UTAUT của Venkatesh & cộng sự (2003) trước đây. Cũng như UTAUT, UTAUT2 cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong các minh chứng về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ.
Theo Venkatesh & cộng sự (2012), UTAUT2 áp dụng cấu trúc trước đây của UTAUT, nhưng bổ sung thêm các quan hệ trong cấu trúc ban đầu, ba mối quan hệ mới là động lực thụ hưởng, giá trị giá cả, thói quen với ý định sử dụng, và mối quan hệ giữa điều kiện thuận lợi với cả ý định sử dụng và hành vi sử dụng.3 Các nghiên cứu liên quan Các nghiên cứu có liên quan đến sự chấp nhận và sử dụng thương mại di động như nghiên cứu của Kalinic & cộng sự (2023) về sự hài lòng của người tiêu dùng trong thương mại di động với các thành phần lòng tin, ảnh hưởng xã hội, nhận thức sự hữu ích, tính di động, nhận thức sự thú vị trong sự hài lòng của người tiêu dùng trong thương mại di động.