CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC XU LY THONG TIN PHAN HOI TU BAN ĐỌC VE LĨNH VUC VAN HOA TREN BAO CHÍ 1. Một số khái niệm 1. Xử lý Theo GS. Hoàng Phê (2019), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, “xử ly” được định nghĩa như sau [23, tr.
Nhu vậy, xử lý là một động từ chỉ rõ một hành động nào đó. Xu lý thông tin là một quá trình thu nhập thông tin; phân tích, doi chiếu, so sánh, chế biến thông tin thô, thông tin ban đâu thành thông tin hay sự việc mang mot giá tri nhất định nào do. Thông tin phản hồi - Thuật ngữ “thông tin” (gốc Latinh là Informatio - nghĩa là diễn giải, thông báo, lý giải) là thuật ngữ thông dụng, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay, thuật ngữ “thông tin” (tiếng Anh: Information) càng được sử dụng phô biến.
Người ta có nhu cau đọc báo, xem truyền hình, nghe dai, tham gia mạng xã hội, giao tiếp với người khác dé có thông tin. Trong đời sống hàng ngày, thông tin là tin tức về các sự kiện diễn ra 18 trong thế giới xung quanh. Trong các lĩnh vực khoa học khác như triết học, toán học, vật lý học, điều khiển học, di truyền học., khái niệm “thông tin” được sử dụng có nội dung khác nhau, không giống cách hiểu trong đời sống hàng ngày. Chang hạn, theo quan điểm điều khiển học, thông tin là tính trật tự của các đối tượng vật chất có những mối liên hệ biện chứng.
Theo quan điểm hệ thống, thông tin là sự hạn chế tính đa dạng của mỗi hệ thống sự vật đối với môi trường. Theo quan điểm triết học, thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự vật của thé giới tự nhiên, xã hội vả tư duy. Hoàng Phê định nghĩa về “thông tin” như sau [23, tr.1206, 1207]: - Động từ: Truyền tin cho nhau để biết (thông tin bằng điện thoại/ buổi thông tin khoa học/ chiến sĩ thông tin - làm công tác thông tin). - Danh từ: Điều được truyền đi cho biết; tin truyền đi (nói khái quát).
Chăng hạn: Bài viết có lượng thông tin cao. Tựu trung lại, /hông tin la tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người. Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định. - Phản hồi (tiếng Anh: Feedback) là sự bình luận, nêu ý kiến của cá nhân/tập thể về hoạt động/hành vi của người nào đó hoặc thông tin mà người đọc tiếp nhận.
Có 2 loại thông tin phản hồi: thông tin phản hồi tích cực và thông tin phản hồi tiêu cực. Thông tin phản hôi tích cực đưa ra những thông tin cụ thé, trọng tâm vào vấn đề và dựa trên sự quan sát, nêu những điểm tích cực và những điểm cần được cải thiện. Thông tin phản hồi tiêu cực đưa ra những thông tin đáp lại theo kiểu “khen và chê” - những đánh giá mang tính cá nhân, chung chung, không rõ 19 ràng, chú trọng vào con người và dựa trên quan điểm, cảm nhận của người đưa ý kiến phản hồi. Có thê hiểu phản hồi trên báo chi là sự bình luận, nêu ý kiến của cá nhân/rập thể ở dang bài viét, y kiến, bình luận (comment), đơn - thư khiếu nại về tin/bài/hình ảnh/video đã duoc đăng trước đó.
Xử lý thông tin phản hồi Trong các chức năng của báo chí, chức năng thông tin - giao tiếp, chức năng giám sát và phản biện xã hội là những tiền đề để báo chí - công chúng kết nỗi với nhau nhằm tạo ra sự tương tác hai chiều. Chức năng thông tin - giao tiếp: Chức năng thông tin là chức nang quan trọng hàng đầu của báo chí. Báo chí ra đời là nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp của công chúng và sự phát triển của báo chí cũng dựa trên Sự g1a tăng nhu cầu thông tin - giao tiép trong xã hội. Con người luôn muốn biết những gì xảy ra xung quanh mình, từ trong phạm vi địa phương nơi mình sinh sống đến phạm vi tinh/thanh phố, cả nước và thế giới.
Có thé nói, thông tin là nhu cầu sống còn, nhu cầu phát triển của con người và xã hội, đồng thời là động lực kích thích sự phát triển. Sự ra đời của báo chí là cột mốc quan trọng đánh dấu nhu cầu thông tin - giao tiếp ở một mức độ nóng bỏng, cấp thiết hơn rất nhiều và khả năng đáp ứng của các phương tiện truyền tin đã đạt đến trình độ cao hơn han trước đó. Chức năng giám sát và phản biện xã hội: Ở Việt Nam, báo chi là phương tiện truyền thông đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tô chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn dan của nhân dân. Báo chí duy trì, phát trién mối quan hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì, phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm các quyết định quản lý thông suốt và thực thi.
Giám sát bao gôm hai quá trình: theo dõi và kiêm tra. Giám sát xã hội va 20 phản biện xã hội có nội dung rất rộng, liên quan đến tất cả những lĩnh vực, những van dé của đời sống cộng đồng, từ khâu hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật đến tô chức thực hiện; từ lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến quốc phòng - an ninh; từ đối nội đến đối ngoại; từ tổ chức bộ máy, con người đến công việc của con người và bộ máy; từ tầm vĩ mô đến trung, vi mô. Qua đó, có thể hiểu giám sát xã hội của báo chí là kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương, khích lệ và tông kết thực tiễn; đồng thời sớm phát hiện những “khiếm khuyết” của các chính sách - thé ché, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy nhà nước. Phản biện xã hội của báo chí là phương thức tốt nhất giúp công chúng và người lãnh đạo, quản lý trong cuộc nhìn nhận một vấn đề, một sự kiện ở nhiều góc độ khác nhau, nhiều quan điểm khác nhau.
Từ các khái niệm đã nêu và phân tích các chức năng của báo chí liên quan đến việc xử lý thông tin phản hồi, tác giả luận văn xin khái quát và đưa ra khái niệm “xử lý thông tin phản hồi” như sau: Xử lý thông tin phản hồi là việc cơ quan báo chí sử dụng những thao tác nghiệp vụ và công nghệ hỗ trợ để giải quyẾt những văn bản, ý kiến bạn đọc gửi đến nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, mối quan tâm của công chúng đối với vấn dé/sy kiện/hành động/hành vi nào đó; góp phan điêu chỉnh các chủ trương, chính sách, văn ban hay mối quan hệ xã hội; gia tăng vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí. Mục đích của việc xử lý thông tin phản hồi của bạn đọc: (1) Tạo ra diễn đàn; (2) Tạo ra góc nhìn đa chiều về một sự kién/van dé; (3) Làm phong phú nội dung tờ báo; (4) Tác động đến chính quyền, cơ quan chức năng dé điều chỉnh chủ trương, văn bản sắp ban hành nêu chủ trương, văn bản đó có những nội dung 21 chưa hợp lý; (5) Gia tăng tương tác giữa tòa soạn và bạn đọc; (6) Xác minh, làm rõ độ xác tín của tin/bài; cải chính nếu có sai sót. Bạn đọc GS. Hoàng Phê định nghĩa về “độc giả” [23, tr.424]: Người đọc sách báo, trong quan hệ với tác giả, nhà xuất bản, cơ quan báo chí, thư viện.
Từ “độc giả” đồng nghĩa với “bạn đọc”. Trong khuôn khổ luận văn này, do phạm vi nghiên cứu là quy trình, cách thức xử lý thông tin phản hồi của ban đọc ở lĩnh vực văn hóa trên các sản phẩm báo mạng điện tử của Báo Tuôi Trẻ, Báo Người Lao Động và Báo VietNamNet, nên tác gia xin được dùng khái niệm “ban đọc” dé thực hiện nghiên cứu. Văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO): “Văn hóa là tổng thể song động các hoạt động và sáng tao trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thé kỷ, hoạt động sáng tao ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá tri, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [10, tr. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc song, loài người mới sáng tao va phat minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [18, t.
22 Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021 ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra định nghĩa về văn hóa: Văn hóa là một phạm trù rất rộng, có thé được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau, rất phong phú, đa dạng. “Khi nói đến văn hóa là nói đến những gi là tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cắt, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiễn bộ (một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có văn hóa; lỗi sống văn hóa, nếp sống văn hóa, cách ứng xử có văn hóa. Còn những gi xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hén, những hành động phi pháp, bỉ ôi. là vô văn hóa, phi văn hóa, phản văn hóa””.
Tiếp cận từ góc độ xã hội học, văn hóa là nên tảng của các hoạt động xã hội. Khi các giá trị văn hóa được đề cao thì các mối quan hệ xã hội cũng có điểm tựa là các giá trị chân chính, đúng đắn và các quan hệ này sẽ tự nhiên hướng tới cái đẹp, cái thiện. Nội hàm văn hóa trong thời đại mới đã có sự mở rộng, phát triển; văn hóa nổi lên, đóng vai trò là “hệ điều tiết” sự vận động mọi mặt đời sông xã hội. Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S này sáng tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử.