MỞ ĐẦU Từ năm 1990, lượng khí nhà kính đã làm gia tăng 41% tổng bức xạ, nhân tố gây ra quá trình nóng lên toàn cầu. Trong đó, khí carbon dioxide (CO 2) chiếm 82% lượng bức xạ gia tăng trong thập niên vừa qua. Tình trạng thải khí CO2 đã đạt đến những kỷ lục vào năm 2017 và 2018. Đến năm 2021, nồng độ CO2 trong khí quyển đã lên mức trung bình toàn cầu 415 ppm, cao hơn gần 50% so với giai đoạn trước khi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp, và đang tiếp tục tăng cao hơn nữa.
Tác động của sự nóng lên của trái đất đã dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng cho môi trường toàn cầu (thời tiết khắc nghiệt, mực nước biển dâng lên, phá hủy hệ sinh thái và những tác động thay đổi đột ngột trên diện rộng) và hệ thống xã hội (suy giảm khu môi trường cư trú, phá hủy nền kinh tế và cơ sở hạ tầng). Việt Nam là quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ hệ quả của biến đổi khí hậu. Đặc biệt, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng và suy giảm trong những năm vừa qua do sự xâm lấn của nước biển, cường độ và mật độ cao của thiên tai như bão, hạn hán, lũ lụt, và sự bùng phát của bệnh dịch. Không những thế, thời tiết khắc nghiệt đã làm thay đổi không nhỏ đến môi trường sống và sức khỏe (xuất hiện nhiều dịch bệnh) của người dân Việt Nam.
Hơn thế nữa, sự tăng lên của nhiệt độ khí quyển làm biến đổi tốc độ bốc hơi và tần suất mưa, từ đó làm ảnh hưởng đến tính sẵn có và chất lượng nguồn tài nguyên nước trên lãnh thổ Việt Nam. Biến đổi khí hậu cũng đe dọa nghiêm trọng đến nhiều hệ sinh thái, đặc biệt là sinh thái rừng ngập mặn. Đã có nhiều công nghệ được phát triển nhằm hạn chế sự phát thải CO 2 ra khí quyển, trong đó chủ yếu là công nghệ xử lý CO2 cuối nguồn. Các công nghệ xử lý CO2 cuối nguồn bao gồm công nghệ màng tách CO2 từ khí thải công nghiệp, hấp phụ, hấp thụ dùng dung môi (amine hoặc K2CO3), kỹ thuật đóng rắn CO2, bơm xuống tầng sâu của đáy biển, hoặc chuyển hóa CO2 thành các sản phẩm như polymer.
Tuy nhiên, phương pháp tích trữ địa chất và hóa học rất tốn kém và không được đánh giá là bền vững vì CO2 có thể bị rò rỉ chậm hoặc nhanh. Mỗi công nghệ đều có những ưu và nhược điểm riêng. Xử lý CO 2 bằng vi tảo là một công nghệ tiềm năng, bởi vì vi tảo sinh trưởng nhanh và có tốc độ xử lý CO2 cao gấp 10-50 lần thực vật. 2 Ở Việt Nam, vi tảo lam - Spirulina platensis đã được sử dụng để xử lý CO2 từ khí thải than (của nhà máy gạch) và sản xuất sinh khối có dinh dưỡng cao làm nguyên liệu cho sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khoẻ.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng CO2 thải từ các hoạt động công nghiệp tại Việt Nam (ví dụ: nhà máy điện đốt than, nhà máy xi măng, nhà máy chế biến khí tự nhiên, vv) là một nguồn cacbon tiềm năng để sản xuất sinh khối vi tảo có giá trị cao. Mặc dù kết quả nghiên cứu sử dụng CO2 thải để sản xuất sinh khối tảo Spirulina platensis rất hiệu quả, tuy nhiên còn nhiều loài vi tảo từ của Việt Nam chưa được nghiên cứu để hấp thụ CO2 và cung cấp sinh khối làm nguyên liệu để khai thác các hợp chất thứ cấp. Vi tảo lục Chlorella sorokiniana TH02 có khả năng tăng trưởng nhanh và có khả năng sử dụng nguồn CO2 để sinh trưởng. Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu xử lý CO2 nhằm thu được sinh khối vi tảo Chlorella sorokiniana TH02 trên hệ phản ứng panel phẳng”.
Các kết quả nghiên cứu thu được trong luận văn sẽ làm sáng tỏ khả năng sử dụng và cố định CO2 của chủng Chlorella sorokiniana TH02 trong hệ thống nuôi kín dạng panel phẳng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ CO2 1. Khái niệm, tính chất hóa lý a.
Khái niệm: Cacbon điôxít hay điôxít cacbon (các tên gọi khác than khí, anhiđrít cacbonic, khí cacbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử ôxy. Là một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công thức hóa học là CO2. Ở dạng rắn, nó được gọi là băng khô. Các thuộc tính hóa lý: Cacbon đioxit là một khí không màu mà khi hít thở phải ở nồng độ cao (nguy hiểm do nó gắn liền với rủi ro ngạt thở) tạo ra vị chua trong miệng và cảm giác nhói ở mũi và cổ họng.
Các hiệu ứng này là do khí hòa tan trong màng nhầy và nước bọt, tạo ra dung dịch yếu của axit cacbonic. Tỷ trọng riêng của nó ở 25 °C là 1,98 kg/m3, nặng hơn khoảng 1,5 lần không khí. Phân tử cacbon đioxit (O = C = O) chứa hai liên kết đôi và có hình dạng tuyến tính. Nó không có lưỡng cực điện.
Do nó là hợp chất đã bị ôxi hóa hoàn toàn nên về mặt hóa học nó không hoạt động mạnh lắm và cụ thể là không cháy. Ở nhiệt độ dưới -78 °C, cacbon đioxit ngưng tụ lại thành các tinh thể màu trắng gọi là băng khô. Cacbon đioxit lỏng chỉ được tạo ra dưới áp suất trên 5,1 bar; ở điều kiện áp suất khí quyển, nó chuyển trực tiếp từ các pha khí sang rắn hay ngược lại theo một quá trình gọi là thăng hoa. Nước sẽ hấp thụ một lượng nhất định cacbon đioxit, và nhiều hơn lượng này khi khí bị nén.
Khoảng 1% cacbon đioxit hòa tan chuyển hóa thành axit cacbonic. Axit cacbonic phân ly một phần thành các ion bicacbonat (HCO 3−) và cacbonat (CO32−). Khi một nguồn lửa được đưa vào ống thử có chứa cacbon đioxit thì ngọn lửa sẽ tắt ngay lập tức do cacbon đioxit thông thường không duy trì sự cháy, 4 tuy nhiên nếu là sự cháy của các kim loại mang tính khử cao như Mg, Zn thì cacbon bị khử, tạo ra oxit kim loại và muội than. Để xác nhận khí này là cacbon đioxit thì khí được dẫn qua dung dịch canxi hydroxit (Ca(OH)2) trong.
Dung dịch canxi hydroxit sẽ chuyển thành màu trắng do sự tạo thành canxi cacbonat. Ứng dụng Cacbon đioxit lỏng và rắn là chất làm lạnh quan trọng, đặc biệt là trong công nghiệp thực phẩm, trong đó chúng tham gia vào quá trình lưu trữ và vận chuyển các loại kem và các thực phẩm đông lạnh [1]. Cacbon đioxit được sử dụng để sản xuất nước giải khát cacbonat hóa và nước soda. Theo truyền thống, quá trình cacbonat hóa trong bia và vang nổ có được do lên men tự nhiên, nhưng một số nhà sản xuất cacbonat hóa các đồ uống này một cách nhân tạo [2].
Bột nở sử dụng trong các loại bánh nướng tạo ra khí cacbonic làm cho khối bột bị phình to ra, do tạo ra các lỗ xốp chứa bọt khí. Men bánh mì tạo ra khí cacbonic bằng sự lên men trong khối bột, trong khi các loại bột nở hóa học giải phóng ra khí cacbonic khi bị nung nóng hoặc bị tác dụng với các axit. Cacbon đioxit dập tắt lửa, và một số bình cứu hỏa, đặc biệt là các loại được thiết kể để dập cháy do điện, có chứa cacbon điôxít lỏng bị nén. Cacbon điôxít cũng được sử dụng như là môi trường khí cho công nghệ hàn, mặc dù trong hồ quang thì nó phản ứng với phần lớn các kim loại.
Nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp ô tô mặc dù có chứng cứ đáng kể cho thấy khi hàn trong môi trường này thì mối hàn giòn hơn so với các mối hàn trong môi trường các khí trơ, và các mối hàn này theo thời gian sẽ giảm phẩm cấp do sự tạo thành của axít cacbonic. Nó được sử dụng làm việc này chủ yếu là do nó có giá thành thấp hơn nhiều so với các khí trơ như agon hay heli. Cacbon đioxit lỏng là một dung môi tốt cho nhiều hợp chất hữu cơ, và được dùng để loại bỏ cafein từ cà phê. Nó cũng bắt đầu nhận được sự chú ý của công nghiệp dược phẩm và một số ngành công nghiệp chế biến hóa chất khác do nó là chất thay thế ít độc hơn cho các dung môi truyền thống như các clorua hữu cơ.
5 Thực vật cần có cacbon đioxit để thực hiện việc quang hợp, và các nhà kính có thể được làm giàu bầu khí quyển của chúng bằng việc bổ sung CO2 nhằm kích thích sự tăng trưởng của thực vật [3] và tảo [4]. Nồng độ cao của cacbon đioxit trong khí quyển tiêu diệt có hiệu quả nhiều loại sâu hại. Các nhà kính được nâng nồng độ CO2 tới 10. Trong y học, tới 5% cacbon đioxit được thêm vào oxy nguyên chất để trợ thở sau khi ngừng thở và để ổn định cân bằng O2/CO2 trong máu.
Cacbon đioxit cũng hay được bơm vào hay gần với các giếng dầu [6]. Nó có tác dụng như là tác nhân nén và khi hòa tan trong dầu thô dưới lòng đất thì nó làm giảm đáng kể độ nhớt của dầu thô, tạo điều kiện để dầu chảy nhanh hơn trong lòng đất vào các giếng hút. Trong các mỏ dầu đã hoàn thiện thì một hệ thống ống đồ sộ được sử dụng để chuyển cacbon đioxit tới các điểm bơm. CÁC NGUỒN PHÁT THẢI KHÍ CO2 VÀ TÍCH LŨY CO2 TRONG KHÍ QUYỂN Cacbon điôxít phát ra từ hai nguồn chính là từ tự nhiên và nhân tạo.
Đối với nguồn tự nhiên, cacbon điôxít có thể thoát ra từ các núi lửa, hoạt động hô hấp của các sinh vật sống hiếu khí, một số vi sinh vật sản xuất từ sự lên men và sự hô hấp của tế bào, các loài thực vật hấp thải điôxít cacbon trong quá trình hô hấp. Đối với nguồn nhân tạo, cacbon điôxít được tạo và thoát ra từ các quá trình công nghiệp đốt nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí hóa lỏng, công nghiệp xi măng và nông nghiệp [7]. Nguồn cacbon điôxít tự nhiên được tạo ra nhằm duy trì chu trình cân bằng cacbon trong tự nhiên. Tuy nhiên, do sự phát triển công nghiệp sau cách mạng công nghiệp, lượng nhiên liệu hóa thạch đã và đang được khai thác sử dụng cạn kiệt, đồng thời thải ra một lượng lớn cacbon điôxít tích lũy trong khí quyển làm mất cân bằng tự nhiên của cabon và gây ra hiệu ứng nhà kính.
Số liệu mới nhất công bố cho thấy nồng độ CO2 trung bình trong khí quyển đo được cuối năm 2020 là 415 ppm (nồng độ theo khối thể tích) tương đương với 630 ppm (nồng độ theo khối lượng).