CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NGUY HẠI 1. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NGUY H I 1. Trên thế giới Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt trung bình toàn cầu khoảng 0,74 kg/ngƣời/ngày, trong đó ở quốc gia thấp nhất là 0,11 kg/ngƣời/ngày, cao nhất là 4,54 kg/ngƣời/ngày. Tổng khối lƣợng CTR đô thị phát sinh trên toàn cầu vào khoảng 2 tỷ tấn năm 2016, trong đó nhiều nhất là ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dƣơng với 468 triệu tấn (~23%) và thấp nhất là Trung Đông và Bắc Phi với 129 triệu tấn (~6%).
Ƣớc tính tổng khối lƣợng các loại CTR có thể vào khoảng 7-10 tỷ tấn/năm 2016. Dự báo CTR đô thị sẽ tăng lên 2,59 tỷ tấn năm 2030 và 3,4 tỷ tấn năm 2050, trong đó tốc độ tăng nhanh nhất ở các khu vực châu Phi cận Sahara, Nam Á và Trung Đông (Silpa K. Chất thải nhựa đang nổi lên nhƣ là vấn đề môi trƣờng bức xúc, đƣợc sự quan tâm của cả thế giới do những tác động đến môi trƣờng. Ƣớc tính tổng lƣợng chất thải nhựa phát sinh khoảng 242 triệu tấn, chiếm 12% lƣợng CTR đô thị toàn cầu (Silpa K.
Ở nhiều nƣớc, chất thải nhựa không đƣợc quản lý tốt, đã và đang đƣợc xả thải ra các đại dƣơng, gây nhiều tác động xấu đối với môi trƣờng và hệ sinh thái biển. Năm 2015, Jambeck và cộng sự đã nghiên cứu CTR tại 192 quốc gia ven biển và đƣa ra ƣớc tính hàng năm, khoảng 4,8-12,7 triệu tấn chất thải nhựa đƣợc thải ra đại dƣơng. Trong đó, Việt Nam đƣợc xếp thứ 4 trên thế giới về lƣợng chất thải nhựa trên biển (chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Phillipines) với ƣớc tính khoảng 0,28-0,73 tấn/năm (Jambeck et al, 2015). Một loại chất thải đặc thù khác là chất thải điện tử với ƣớc tính lƣợng phát sinh trên toàn cầu khoảng 41,8 triệu tấn năm 2014, tăng lên 45 triệu tấn năm 2016, và khoảng 48 triệu tấn năm 2018.
Ở Việt Nam, lƣợng chất thải 4 điện tử phát sinh ƣớc khoảng 116.000 tấn năm 2016 và sẽ tiếp tục gia tăng (Balde et al. Về thành phần CTR sinh hoạt, thành phần chất thải rắn khác nhau ở các nhóm nƣớc. Theo đó các nƣớc có thu nhập cao có hàm lƣợng chất thải hữu cơ thấp hơn, với khoảng 32%, trong khi các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình có hàm lƣợng hữu cơ cao hơn, khoảng 53-56%. Ngƣợc lại, các thành phần CTR có thể tái chế (nhƣ giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh…) là cao hơn ở các nƣớc có thu nhập cao, khoảng 50% và thấp hơn, chỉ khoảng 16% ở các nƣớc thu nhập thấp (Silpa K.
Nhật Bản đã từng phải đối mặt với những vấn đề môi trƣờng, nguồn nƣớc nghiêm trọng do CTR gây ra trong nhiều thập kỉ của thế kỉ XX, đến nay, Nhật Bản đã trở thành một trong những đất nƣớc sạch sẽ nhất thế giới. Đóng góp vào thành công trong hệ thống quản lý, xử lý CTR của Nhật Bản phải kể đến chính sách phân loại rác ngay từ đầu và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại. Với mục tiêu “không rác thải” vào năm 2020, ngƣời dân tại Kamikatsu của Nhật Bản đã nỗ lực để phân loại rác thành 45 loại và chuyển đến một cơ sở của địa phƣơng. Ngƣời dân tại thị trấn này chia ra tới 45 loại rác khác nhau trƣớc khi mang đi xử lý.
Thậm chí thị trấn này còn không có điểm tập kết rác.500 ngƣời dân của thị trấn ở miền Tây Nhật Bản đã tự vận chuyển rác thải của họ tới một cơ sở xử lý rác của địa phƣơng. Theo thống kê những năm gần đây, bình quân mỗi năm nƣớc Nhật xả ra trên 45 tỷ tấn rác, xếp thứ 8 thế giới. Nhƣng đến nay đã có hơn 70% CTR của Nhật Bản đƣợc đốt để sản xuất điện, phần còn lại để tái chế và chỉ một lƣợng nhỏ CTR ở đô thị đƣợc đƣa đến các bãi rác. Nhật Bản cũng tìm cách tận dụng các bãi rác một cách hiệu quả bằng cách tập kết CTR vào những bãi rác khép kín trên vịnh Tokyo, dần dần, các bãi rác này biến thành các cụm đảo nhân tạo, có tác dụng nhƣ “máy điều hòa nhiệt độ thiên nhiên” khổng lồ làm mát không khí biển thổi vào Tokyo.
Cũng giống nhƣ Nhật Bản, Chính phủ Hàn Quốc có một hệ thống quản lý CTR rất khoa học và tiên tiến, yêu cầu khắt khe với vấn đề phân loại CTR tái chế, đồng thời ý thức đổ rác của ngƣời dân rất cao. Ngƣời dân Hàn Quốc 5 phải trả phí cho việc xử lý những loại CTR cồng kềnh nhƣ: Đồ nội thất, đồ dùng thiết bị điện, những thứ không đựng vừa túi ni-lông., các loại túi ni lông dùng để đựng CTR cũng đƣợc phân loại theo địa phƣơng và mục đích. Về xử lý, rác hữu cơ nhà bếp một phần đƣợc sử dụng làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn đƣợc chôn lấp theo công nghệ hiện đại, liên hoàn khép kín để thu hồi khí bioga cung cấp cho phát điện. Không chỉ dừng lại đó, Chính phủ Hàn Quốc còn tiếp tục xây dựng công viên với chủ đề môi trƣờng trên chính bãi rác này nhằm sử dụng hiệu quả quỹ đất trống bằng cách xây dựng khu vực vui chơi giải trí, thể thao, khu sinh thái, khu hoạt động môi trƣờng phục vụ sinh hoạt cho cộng đồng.
Đối với Đài Loan, trƣớc năm 1984, chính quyền và ngƣời dân chƣa thực hiện quản lý CTR đô thị, hầu hết ngƣời dân đổ rác vào những địa điểm gần khu vực sinh sống. Đầu năm 1984, để quản lý hiệu quả việc xử lý chất thải, Chính phủ Đài Loan đã đƣa ra “Kế hoạch quản lý và xử lý chất thải ở các đô thị”, đầu năm 1998, nƣớc này mới thực hiện Chƣơng trình “Kế hoạch tái chế tại nguồn 4 trong 1 bao gồm: Thực hiện tái chế bằng cách tích hợp các yếu tố cộng đồng dân cƣ, thiết lập các tổ chức tái chế dựa vào cộng đồng dân cƣ; Các công ty tái chế thu gom và tái chế các loại rác thải; Chính quyền địa phƣơng phân chia và hƣớng dẫn loại rác thải tái chế, sau đó, thu thập và gửi tới công ty tái chế; Quỹ tái chế nhằm thực hiện tái chế và giảm thiểu rác thải. Chƣơng trình thực hiện đã tăng đƣợc tỷ lệ tái chế chất thải trên toàn lãnh thổ. Không dừng lại ở đó, năm 2001, Chính phủ Đài Loan quyết định thực hiện Chƣơng trình khuyến khích tái chế rác thải nhà bếp.
Rác thải nhà bếp đƣợc thực hiện phân thành 2 nguồn: Rác thải có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc; Rác thải đƣợc thu gom để sản xuất phân vi sinh. Giai đoạn đầu của Chƣơng trình đƣợc thực hiện tại 7 thành phố và 10 tỉnh. Tại Việt Nam 1. Hiện trạng phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trƣờng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, lƣợng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc khoảng 800 ngàn tấn/năm.
Số lƣợng chất thải nguy hại này đƣợc thống kê dựa 6 trên số lƣợng chất thải nguy hại tối đa dự kiến phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (do các chủ cơ sở này đăng ký) và không bao gồm lƣợng chất thải nguy hại phát sinh từ các cá nhân, hộ gia đình nên có độ chính xác chƣa cao. Hiện nay, đa phần các chủ nguồn thải có phát sinh lƣợng chất thải nguy hại lớn hàng năm đều đã đăng ký và đƣợc cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại. Lƣợng chất thải nguy hại phát sinh từ các chủ nguồn thải này đều đã đƣợc thu gom và đƣa đến các cơ sở đã cấp phép để xử lý. Một phần lƣợng chất thải nguy hại phát sinh từ các nguồn thải khác đƣợc xử lý bởi chính các chủ nguồn thải (bằng các công trình bảo vệ môi trƣờng tại cơ sở), bởi các cơ sở xử lý do địa phƣơng cấp phép hoặc đƣợc xuất khẩu ra nƣớc ngoài để xử lý, tái chế.
Một số chất thải nguy hại đặc thù (ví dụ nhƣ chất thải có chứa PCB) do chƣa có công nghệ xử lý phù hợp thì hiện đang đƣợc lƣu giữ tại nơi phát sinh. Với tình hình nhƣ vậy, nhìn chung lƣợng chất thải nguy hại phát sinh tại hầu hết các chủ nguồn thải lớn đều đã đƣợc quản lý đúng theo các quy định hiện hành. Lƣợng chất thải nguy hại phát sinh tại các chủ nguồn thải nhỏ hoặc tại các vùng sâu, vùng xa chỉ phần nhỏ đƣợc thu gom, xử lý; số còn lại đƣợc các làng nghề thu gom, tái chế chƣa đảm bảo yêu cầu về môi trƣờng hoặc thậm chí bị đổ lẫn vào chất thải sinh hoạt và chôn lấp chung tại bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt, gây ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng. Đến tháng 6 năm 2015, trên toàn quốc có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên đã đƣợc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng cấp phép và khoảng 130 đơn vị (chủ yếu là đơn vị vận chuyển chất thải nguy hại) do các địa phƣơng cấp phép đang hoạt động.
Riêng công suất xử lý chất thải nguy hại của các cơ sở đƣợc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng cấp phép là khoảng 1. Với số lƣợng và công suất xử lý nhƣ vậy, các cơ sở này trong thời gian qua đã đóng vai trò chính trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại (bao gồm cả chất thải điện tử) đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành. Tổng số lƣợng chất thải nguy hại mà các đơn vị này thu gom, xử lý đƣợc trong năm 2012 là 165. Căn cứ vào khối lƣợng chất thải phát sinh này, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại hiện nay chiếm khoảng gần 40% tổng lƣợng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc.
Các công nghệ xử lý chất thải rắn nguy hại tại Việt Nam Phƣơng pháp xử lý chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là những phƣơng pháp truyền thống, thô xơ nhƣ chôn lấp, hóa rắn, chôn trong bể đóng kín. Những phƣơng pháp này không những không xử lý đƣợc triệt để các chất ô nhiễm có trong chất thải mà còn tốn diện tích, dễ gây phát tán dịch bệnh ra ngoài môi trƣờng. Hiện nay, ở một số tỉnh đã áp dụng công nghệ thiêu đốt trong xử lý chất thải rắn nguy hại nhƣng không nhiều và chủ yếu vẫn là những công nghệ chƣa tiên tiến. Thiêu đốt là quá trình xử lý chất thải ở nhiệt độ cao.