CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN 1. Khái niệm xói mòn đất Xói mon dat hiện nay có nhiêu định nghĩa khác nhau: Theo Ellison (1944): “Xói mòn là hiện tượng di chuyên đất bởi nước mưa, bởi gió dưới tác động của trọng lực lên bề mặt của đất. Xói mòn đất được xem như là một hàm số với biến số là loại đất, độ dốc địa hình, mật độ che phủ của thảm thực vật, lượng mưa và cường độ mưa”. Theo Rattan Lal (1990): “Xói mòn đất là sự mang di lớp đất mặt do dòng chảy, tuyết tan hoặc các tác nhân địa chất khác bao gồm cả quá trình sat lở do trọng lực”.
Cũng dựa trên yếu tố trọng lực, tác giả Cao Đăng Dư (1992) có quan niệm cho rằng quá trình xói mòn, trượt lở, bồi lắp thực chat là quá trình phân bó lại vật chất dưới ảnh hưởng của trọng lực, xảy ra khắp nơi và bị chi phối bởi yếu tố địa hình. Theo Tổ chức FAO (1994): “Xói mòn là hiện tượng các phần tử mảnh, cục và có khi cả lớp bê mặt dat bi bào mòn, cuôn trôi do sức gid và sức nước”. Theo cách tiếp cận khác khi nghiên cứu về lớp phủ thực vật của các tác giả Nguyễn Quang Mỹ và Nguyễn Tứ Dần (1986) cho rằng: “Xói mòn là một quá trình động lực phá hủy độ màu mỡ của đất, làm mất trạng thái cân bằng của cả vùng bị xói mòn lẫn vùng bị bồi tụ”. Như vậy, xói mòn đất là hiện tượng các cấp hạt đất, cuc đất, có khi cả lớp đất bề mặt bị bào mòn, cuốn trôi do sức gid, suc nước va một số hoạt động khác của con người.
Xói mòn đất được biéu hiện bang hai hình thức chủ yếu là xói mòn bề mặt và xói mòn rãnh. Các nhân tô ảnh hưởng tới xói mòn đất Theo kết quả nghiên cứu xói mòn đất của các nhà khoa học (Ellision 1944, Wishmeier va Smith 1978, .) thì các yếu tổ ảnh hưởng đến xói mòn đất (chủ yếu là xói mòn do nước) bao gồm: khí hậu (mưa), địa hình, thổ nhưỡng, thảm phủ bề mặt và hoạt động của con người. Yếu tổ khí hậu Yếu tố khí hậu chính là mưa và gid. O Viét Nam, mua 1a yếu tố khí hậu quan trọng nhất.
Gió ảnh hưởng đến xói mòn chủ yếu thông qua hướng gió và tốc độ gió, gió cũng ảnh hưởng đến tốc độ thoát hơi nước và ầm độ đất. Lượng mưa, cường độ mưa, và sự phân bố mưa sẽ quyết định đến lực phân tán các hạt của đất, đến lượng nước và tốc độ của nước chảy tràn. Tổng lượng mưa cao chưa han gây xói mòn mạnh hơn cường độ mưa cao. Thời gian mưa ngắn cũng hạn chế xói mòn do không đủ lượng nước hình thành dòng chảy.
Khi cường độ mưa cao, thời gian mưa kéo dài, xói mòn rất nghiêm trọng. Điều này đặc biệt nghiêm trọng sau khi thu hoạch hay ngay sau làm đất cho cây trồng Vụ Sau. Yếu tổ địa hình Độ dốc và chiều dài sườn dốc là 2 thành phần ảnh hưởng đến chảy tràn và xói mòn. Độ đốc càng lớn, mức độ xói mòn càng cao.
Theo nguyên tắc, chiều đài sườn dốc càng dài, tốc độ dòng chảy càng tăng, nhưng thực tế, đất có tính thấm và không thật bằng phẳng nên sườn dốc càng dài, lượng nước chảy tràn lại giảm. Chảy tràn chịu ảnh hưởng bởi lưu lượng và tốc độ dòng chảy, và lưu tốc phụ thuộc vào độ dốc. Tốc độ di chuyên càng nhanh, lực mang các vật liệu càng lớn. Yếu to thé nhưỡng Các tinh chất đất ảnh hưởng đến xói mon bao gồm các tinh chất ảnh hưởng đến tinh thấm ban đầu và tính bền của cấu trúc đất như sa cau (ti lệ phần trăm các cấp hạt khoáng như hạt sét, thịt, cát trong đất), chất hữu cơ, độ dốc.
Đất ảnh hưởng đến xói mòn phụ thuộc vào tốc độ thấm ban đầu và kha năng chống lại sự phân tán các hạt khi nước chảy tran. - Tính thấm ban đầu: Kha năng thấm nước mưa vào đất phụ thuộc: độ rong dat, am độ dat trong thời gian mưa và tính thấm xuyên suốt phẫu diện đất. Tốc độ thắm ban dau tỉ lệ nghịch với căn bậc 2 của âm độ đất tại thời điểm mưa bắt đầu. - Khả năng chống phân tán của đất: Có 2 tính chất ảnh hưởng đến khả năng phân tán hạt.
(1) Khi đất khô và đất bị nén chặt, lượng mưa ban đầu sẽ có tác động tạo vữa (hỗn hợp sét và nước), làm tăng tỉ trọng nước chảy tràn. Khi mưa kéo dài, phần đất bị phân tán, tạo vữa, bị nước cuốn trôi đi, nên chỉ cón lại tầng đất bị nén chặt, âm ướt, lượng huyền phù (vữa) trong nước chảy tràn giảm dan theo thời gian mưa. Tính chống chịu sự phân tán của tầng đất gia tăng theo hàm lượng sét. Vì vậy, khi mưa đất bị xói mòn do sự tạo hồ vữa và tác động va đập của hạt mưa lên mặt đất.
Các vật liệu mịn bị mang đi chủ yếu trong giai đoạn này. Đất có cấu trúc càng bền chặt, càng chống lại được sự phân tán và tao hô vữa, nên càng giảm lượng huyện phù trong nước chảy tran. Tuy nhiên nếu mưa lớn kéo dài, chảy tràn sẽ gia tăng cả lưu lượng và tốc độ, sự xói mòn phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa các thành phần hạt trên mặt và bên dưới. Trong trường hợp này, đất có cấu trúc tơi xốp có thé bi xói mòn mạnh hon đất bị nén chặt.
(2) Khi đất bão hòa, nhất là đất thịt, có tính dính thấp, nếu mưa to, xói mòn sẽ rất nghiêm trọng. Thảm thực vật Can trở sự va đập trực tiếp của hạt mưa vào đất và làm tiêu hao năng lượng của hạt mưa. Ngoài ra thảm phủ thực vat hay dư thừa có tac dụng như là 1 đập làm chậm tốc độ dòng chảy, thúc đây sự lắng đọng của hạt. Tốc độ xói mòn gia tăng trên đất đốc khi làm đất và làm sạch cỏ trên các vùng đất bắt đầu đưa vào sản xuất nông nghiệp.
Khi đưa vào chăn thả gia súc tự do, rừng bị phá. Con người là tác nhân chính làm dat thoái hóa khi đưa đất rừng vào sản xuất nông nghiệp. Nguy cơ xói mòn cao nhất khi bắt đầu canh tác cây ngắn ngày, nhất là các vùng có nguy cơ xói mòn cao, hệ thống canh tác bỏ hóa. Một thảm phủ thực vật tốt sẽ hạn chế rất lớn tác động của mưa, gió, nên hạn chế được xói mòn rất có ý nghĩa.
Trong nông nghiệp, ta không thể luôn luôn duy trì thảm phủ cây trồng, nhưng tác dụng của đất có canh tác hạn chế xói mòn cũng rất lớn. Các ảnh hưởng của thực vật có thể chia thành 4 đạng: (1) Chắn mưa do tán lá: Một phần nước mưa này đọng lại trên lá, không rơi vào đất, tiêu hao năng lượng hạt mưa, giảm lực va đập lên mặt đất. Đây là tính chất quan trọng của tán lá hạn chê xói mòn đât. (2) Giảm tốc độ nước chảy tràn va cắt đòng chảy: Do tán lá giữ lại 1 phần nước nên làm giảm được lượng nước chảy tràn trên mặt.
Thực vật đang sinh trưởng cũng làm giảm | lượng nước chảy tràn hữu hiệu nhất. Bất ky loại thực vat nao cũng làm cản trở dòng chảy của nước. Thảm thực vật không chỉ làm giảm tốc độ dòng chảy theo độ dốc, mà còn có khuynh hướng ngăn chặn sự tích lũy nước quá nhanh. Đây chính là tác dụng cắt dòng chảy của thảm thực vật.
Khi tốc độ chảy tràn giảm do thảm thực vật, tốc độ thấm của đất phải cần nhiều thời gian dé làm giảm tổng lượng nước chảy tràn. Một thảm cỏ tốt có tác dụng cắt dòng chảy tốt. (3) Rễ cây có ảnh hưởng đến cấu trúc đất, độ bền và các hoạt động sinh học liên quan đến sinh trưởng thực vật nên ảnh hưởng đến độ rỗng của đất. (4) Thoát hơi nước làm giảm 4m độ dat, tăng tính thấm.
Hoạt động của con người Nhiều kỹ thuật canh tác có thể làm gia tăng tốc độ xói mòn như du canh, đốt rừng làm ray, canh tác cây ngắn ngày, đồng cỏ chăn tha tự do, quản lý đất và hệ thống canh tác không hợp lý. Phân loại xói mòn đất Tuy theo tác nhân gây xói mòn mà người ta có thê phân loại xói mòn như sau: (1) Xói mòn do gió Hiện tượng xói mòn đất do gió thường xảy ra ở những vùng dat có thành phan cơ giới nhẹ như những vùng dat cát ven biển, đất vùng đôi bán khô hạn. Mức độ xói mòn do gió mạnh hay yếu phụ thuộc vào những yếu tố như: tốc độ gió, thành phần CƠ gidi của đất, độ âm đất, độ che phủ của thảm thực vật. (2) Xói mòn do nước Xói mòn do nước là loại xói mòn do sự công phá của những hạt mưa đôi với lớp đât mặt và sức cuôn trôi của dòng chảy trên bê mặt đât.
Đây là loại xói mòn nguy hiêm cho vùng đât dôc khi không có lớp phủ thực vật, gây ra các hiện tượng xói mòn mặt, xói rãnh, xói khe. (3) Xói mòn do trọng lực Do đặc tính vật lý của đất là có độ xốp, đất có nhiều khe hở với nhiều kích thước khác nhau và đo lực hút của quả đất, nên đất có khả năng di chuyên từ tầng đất trên bề mặt xuống các tầng đất sâu hơn do chính trọng lượng của nó hoặc có thể là đất bị trôi nhẹ theo khe, rãnh. Hay người ta còn gọi đây là hiện tượng rửa trôi đất theo chiều sâu của phẫu diện đất. (4) Xói mòn do các hoạt động sử dụng và quản lý đất của con người Nhịp độ tăng trưởng kinh tế về mặt dân số và phát triển kinh tế - xã hội trong nhiều thập kỷ qua đã làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất.
Con người với các hoạt động sử dụng và quản lý đất khác nhau đã góp phần gây ra xói mon dat, dân đên suy thoái dat. Các hoạt động sử dụng và quản lý đất dẫn đến xói mòn đất: Khai thác rừng không hợp lý, phá rừng làm nương rẫy, canh tác nông nghiệp không bền vững, cháy rừng, chăn thả gia súc quá mức, xây dựng các công trình đường xá, cầu cống, nhà cửa, đường điện ở vùng núi không hợp lý, có trồng rừng nhưng không chú ý đến hỗn loài và chọn loại cây trồng thích hợp. Sự bồi lắng 1. Định nghĩa Theo Bengt Carsson (1998): “Bùn cát bồi lắng là lớp tích tụ của các hạt lơ lửng mà nặng hơn nước”.