MỞ ĐẦU Bơm ngược MRP4 được mã hoá bởi gen ABCC4 là protein đa kháng thuốc thuộc họ ABC được tìm thấy lần đầu tiên ở tế bào lympho T của người vào năm 1999. Bơm gồm 1325 acid amin, phân bố ở màng đỉnh của tế bào ống lượn gần, nội mô mao mạch não, màng đáy của tế bào tuyến tiền liệt, tế bào gan và đám rối màng mạch. MRP4 vận chuyển nhiều cơ chất nội sinh và ngoại sinh ra ngoài tế bào, đồng thởi đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng nội sinh của một số các phân tử tín hiệu.1 Các cơ chất nội sinh của bơm ngược MRP4 bao gồm các phân tử tín hiệu như prostaglandin E2, leukotrien B4, thromboxan B2 (TXB2), chất truyền tin thứ cấp như cAMP và cGMP, các acid mật, steroid liên hợp và acid folic. Ngoài ra, MRP4 cũng có khả năng vận chuyển một loạt các cơ chất ngoại sinh là thuốc như các thuốc chống ung thư, kháng sinh, thuốc kháng virus và thuốc tim mạch ra khỏi tế bào, gây ra tình trạng đa kháng thuốc thường gặp trong điều trị các bệnh HIV, ung thư và tim mạch.2 Một số nghiên cứu đã chứng minh bơm ngược MRP4 biểu hiện quá mức trong các tế bào ung thư tuyến tiền liệt,3 u nguyên bào thần kinh4 và dòng tế bào bệnh bạch cầu nguyên bào lympho T5 gây ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc điều trị.
Những dữ liệu lâm sàng còn cho biết bơm MRP4 có liên quan đến một số trường hợp tương tác thuốc trên lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu về tương tác giữa NSAID – các thuốc có khả năng ức chế bơm MRP4 với tenofovir trên bệnh nhân nhiễm HIV cho thấy các NSAID ảnh hưởng đến quá trình bài tiết tenofovir gây viêm kẽ thận cấp.6 Các NSAID còn ức chế quá trình vận chuyển methotrexat bởi bơm ngược MRP2 và MRP4 ở thận, gây ảnh hưởng đến sự đào thải của methotrexat ra khỏi cơ thể.7 Vì vậy, bơm MRP4 và các chất ức chế có tiềm năng trở thành một trong những mục tiêu nghiên cứu về tương tác thuốc trong tương lai. Tuy nhiên việc nghiên cứu về bơm ngược MRP4 vẫn gặp một số trở ngại, tháng 6 năm 2023, cấu trúc bơm được chụp bằng kính hiển vi nghiệm lạnh mới được công bố, nhưng một số acid amin ở vùng linh động của bơm vẫn chưa được làm rõ. Các nghiên cứu về cấu trúc MRP4 trước đó chủ yếu sử dụng các mô hình tương đồng hoặc phương pháp đột biến điểm định hướng nhằm xác định các acid amin quan trọng.
2 liên quan đến quá trình gắn kết và vận chuyển cơ chất.8, 9 Giống như các bơm ngược khác thuộc họ ABC, MRP4 được giả định có nhiều hơn một vị trí gắn kết với cơ chất và cơ chế vận chuyển cơ chất vẫn đang được dự đoán thông qua các mô hình in silico.10-12 Việc xây dựng các mô hình pharmacophore, QSAR, docking có thể giúp bổ sung một số thông tin về cấu trúc của bơm, mối liên hệ định lượng giữa cấu trúc – tác động ức chế, khảo sát khả năng gắn kết của chất ức chế vào mục tiêu tác động. Đồng thời, các mô hình in silico được ứng dụng để sàng lọc các chất ức chế bơm từ các ngân hàng dữ liệu sẵn có cũng như dự đoán khả năng ức chế và tương tác thuốc có thể xảy ra trong tương lai. Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu xây dựng mô hình in silico có khả năng dự đoán các chất ức chế bơm ngược MRP4 ở người. MRP4 có khả năng đào thải một loạt các thuốc điều trị ung thư, HIV, tim mạch và gây tương tác thuốc trên lâm sàng.
Ức chế MRP4 có thể làm tăng nồng độ thuốc điều trị trong nội bào, từ đó khôi phục hiệu lực và làm giảm tình đa kháng thuốc xảy ra ở một số bệnh nhân.13 Để đạt được mục tiêu chung đã đặt ra, cần thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Xây dựng mô hình 3D – pharmacophore dựa trên phối tử để sàng lọc nhanh các chất có khả năng ức chế bơm ngược MRP4. Xây dựng mô hình QSAR nhằm dự đoán hoạt tính các chất ức chế bơm MRP4. Thu thập và đánh giá cấu trúc bơm ngược MRP4, nghiên cứu mô hình docking phân tử nhằm nghiên cứu tương tác và khả năng gắn kết của các chất ức chế bơm ngược.
Ứng dụng sàng lọc trên các tập cơ sở dữ liệu DrugBank và ngân hàng dữ liệu các bài thuốc cổ truyền Trung Hoa (TCM) nhằm tìm ra các hợp chất có khả năng ức chế bơm ngược MRP4. Nghiên cứu mô phỏng động lực học phân tử (MD) dự đoán dược động học và độc tính (ADMET) của các chất có khả năng ức chế MRP4 tiềm năng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bơm đa kháng thuốc MRP4 được mã hoá bởi gen ABCC4 1.
Họ bơm ngược ABC (ATP-Binding Cassette) Họ bơm ABC được xem là một trong những họ protein xuyên màng lớn nhất bao gồm 49 protein vận chuyển được chia thành 7 phân họ khác nhau, ký hiệu từ A đến G, dựa trên sự tương đồng về trình tự. Họ bơm này được tìm thấy ở tất cả các sinh vật và ở tế bào người.1 Ở vi sinh vật, các bơm thuộc họ này có khả năng đẩy các kháng sinh ra khỏi tế bào vi khuẩn, góp phần gia tăng tình trạng đề kháng kháng sinh. Ở người, họ bơm ABC thường có mặt ở các tế bào ung thư, sử dụng năng lượng ATP đào thải một loạt các thuốc điều trị ung thư ngược với gradient nồng độ ra môi trường ngoài. Một số bơm ngược như P-glycoprotein (ABCB1/P-gp), protein đa kháng thuốc 1 (ABCC1/MRP1) và protein kháng ung thư vú (ABCG2/BCRP) đều cho thấy các bơm vận chuyển thuộc họ ABC đóng vai trò quan trọng trong việc đề kháng thuốc ở bệnh nhân ung thư.14 Phân họ ABCC gồm 12 protein vận chuyển, trong đó có 9 protein là các bơm ngược đa kháng thuốc.
Các nghiên cứu về đặc điểm, vị trí phân bố và khả năng sao chép cho thấy, 9 protein này là các bơm ngược phụ thuộc ATP vận chuyển các cơ chất nội sinh và ngoại sinh đa dạng về cấu trúc ra khỏi tế bào. Cấu trúc của họ bơm ABCC thường chứa bốn thành phần thiết yếu, gồm hai vùng liên kết nucleotid (Nucleotide binding domain – NBD) và hai vùng xuyên màng (Transmembrane domain – TMD). Phân họ ABCC được chia thành hai nhóm, nhóm protein đa kháng thuốc ngắn gồm các bơm MRP4, MRP5, MRP11, MRP3 và nhóm protein đa kháng thuốc dài, có thêm vùng xuyên màng bổ sung gồm MRP1, MRP2, MRP3, MRP6. Cấu trúc và vị trí phân bố của bơm ngược MRP4 Bơm ngược MRP4 được mã hoá bởi gen ABCC4 nằm trên nhiễm sắc thể 13q32.
Bơm gồm 1325 acid amin, là bơm ngược ngắn nhất trong phân họ ABCC. MRP4 được mô tả lần đầu vào năm 1999 trên tế bào lympho T ở người cho thấy khả năng làm giảm hiệu quả trị liệu của thuốc kháng virus có cấu trúc tương tự nucleosid. 4 MRP4 là bơm ngược duy nhất của phân họ bơm ABCC có vị trí nằm ở màng kép của tế bào phân cực. Bơm ngược này phân bố ở màng đáy của các tế bào biểu mô tuyến tiền liệt, tế bào gan và đám rối màng mạch.
Ở tế bào ống lượn gần và nội mô mao mạch não, MRP4 khu trú ở màng đỉnh. Ngoài ra, MRP4 còn được tìm thấy trong tế bào tinh hoàn, buồng trứng, tuyến thượng thận và tế bào máu.15 MRP4 có cấu trúc điển hình của các bơm ngược thuộc phân họ ABCC, gồm hai vùng xuyên màng (TMD1 và TMD2), mỗi vùng gồm sáu chuỗi protein xuyên màng (TMH1-12) và hai vùng liên kết nucleotid (NBD1 và NBD2) có chức năng thuỷ phân ATP để cung cấp năng lượng cho quá trình vận chuyển cơ chất.16 Chuỗi protein xuyên màng TMH4, TMH5 của TMD1 và TMH10, TMH11 của TMD2 được hoán đổi vị trí với nhau.17 So với các protein MRP5, MRP8, MRP9 cùng nhóm, đầu N của bơm MRP4 ngắn hơn 87 – 255 acid amin và chứa trình tự acid amin đặc trưng. Đầu C của MRP4 lại dài hơn 40 acid amin và chứa trình tự acid amin được bảo tồn.15 Trong nghiên cứu gần đây, trình tự acid amin bảo tồn ở đầu C được xác định là đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chức năng truyền tín hiệu protein kinase A của MRP4 trong bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ.18 Ngoài ra, chuỗi TMH6 của bơm MRP4 chứa hai acid amin phenylalanin ở vị trí 368, 369 đặc trưng và không có ở protein đa kháng thuốc khác.15 Chuỗi TMH7 là một chuỗi xoắn dài hơn so với các chuỗi xoắn còn lại nên có một phần cấu trúc mở rộng đến vùng ngoại bào.19 Cấu trúc của bơm ngược MRP4 được mô tả ở Hình 1. Ngày 24/05/2023, một số cấu trúc của bơm ngược MRP4 được chụp bằng kính hiển vi nghiệm lạnh đã được công bố.19-21 Cấu trúc bơm ngược MRP4 (mã Protein Data Bank – PDB 8I4A) được chụp cùng với phối tử đồng kết tinh là dipyridamol, một chất ức chế bơm ngược có IC50 là 2,1 µM và hằng số phân ly Kd là 23 µM.20 Trong báo cáo này, phần lớn cấu trúc và khoang gắn kết của bơm MRP4 đã được xác định, ngoại trừ vùng acid amin linh động gồm 8 acid amin đầu N, 27 acid amin đầu C, 63 acid amin của dây nối hai nửa cấu trúc của protein và 9 acid amin thuộc chuỗi TMH7 ở vùng ngoại bào.20 Khoang gắn kết của bơm được tạo thành bởi các acid.
5 amin kỵ nước Phe 211 của chuỗi TMH3, Phe 324 của chuỗi TMH5, Leu 367, Phe 368, Arg 375 chuỗi TMH6 và Tryp 995, Arg 998 của chuỗi TMH12. Trong đó Arg 375, Arg 998 là hai acid amin thân nước có khả năng cho hai cặp liên kết hydro. Cấu trúc bơm ngược MRP419 ABCC4 là một gen có tính đa hình cao. Năm 2008, trong nghiên cứu của Nada Abla và cộng sự cho thấy một số kiểu đa hình của gen ABCC4 ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển cơ chất, đặc biệt là các thuốc điều trị ung thư và kháng virus bằng cách tác động đến vị trí và biểu hiện của MRP4, từ đó ảnh hưởng đến dược động học của các loại thuốc này.22 Để tìm hiểu về cách thức vận chuyển cơ chất ra khỏi tế bào, bằng phương pháp đột biến điểm định hướng (Site-Directed Mutagenesis), El-Sheikh và cộng sự đã xác định Phe 368, Phe 369, Glu 374, Arg 375, Glu 378 ở chuỗi TMH6 và Arg 998 ở chuỗi TMH12 ảnh hưởng đến chức năng vận chuyển cơ chất của bơm MRP4.
Ngoài ra, thay thế Arg 375 bằng serin không làm ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển cơ chất. 6 cGMP nhưng lại làm giảm đáng kể ái lực của bơm với cơ chất methotrexat, từ đó cho thấy Arg 375 tham gia vào quá trình vận chuyển của methotrexat.