Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Nêu một số khái niệm về lũ lụt; tổng quan về các nghiên cứu lũ, ngập lụt trong và ngoài nước. Nhất là tham khảo tìm hiểu các nội dung nghiên cứu về xây dựng bản đồ ngập lụt; trên cơ sở nội dung của nghiên cứu lựa chọn phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn. - Tìm hiểu thông tin tổng quan khu vực nghiên cứu như: vị trí đặc điểm địa lý tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm khí tượng thủy văn, phân tích diễn biến mưa, lũ và nhất là các nội dung về tình hình lũ, triều cường ngập lụt trong những năm gần đây ảnh hưởng trực tiếp đến địa phương tỉnh Tiền Giang. - Xác định được tác nhân gây nên ngập lụt có nguồn gốc từ khí 6 tượng thủy văn.
Thông qua các phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu lựa chọn mô hình toán để giải quyết các mục tiêu đặt ra, cụ thể lựa chọn và xây dựng sơ đồ khối sử dụng mô hình MIKE 11, MIKE 21 và MIKE FLOOD để mô phỏng và xây dựng bản đồ ngập lụt khu vực tỉnh Tiền Giang. Chương 2: Thu thập tài liệu và phương pháp nghiên cứu - Thu thập, xữ lý các dữ liệu phục vụ cho việc chạy mô hình như: Số liệu lượng mưa, mực nước, lưu lượng, dữ liệu bản đồ (bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất), dữ liệu báo cáo, dữ liệu dự báo mô hình triều, dữ liệu công trình (hệ thống công trình đê sông, bờ bao). Tất cả các dữ liệu trên được thu thập từ nguồn các cơ quan chuyên ngành của nhà nước, số liệu KTTV từ mạng lưới quan trắc quốc gia, chính thống, có độ tin cậy cao. - Giới thiệu về mô hình MIKE, cụ thể: MIKE 11, MIKE 21 và MIKE FLODD của Viện Thủy lực Đan Mạch (Danish Hydraulics Institute, DHI).
- Phương pháp xây dựng bản đồ ngập lụt: cách tiếp cận; thống kê và phân tích số liệu mực nước thực đo, số liệu liên quan, dữ liệu địa hình và số liệu các mô hình mô phỏng, dự báo mực nước để phục vụ chạy các mô hình. Chương 3: Xây dựng bản đồ ngập lụt khu vực tỉnh Tiền Giang - Thiết lập, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình - Xây dựng các kịch bản dùng cho: Mô phỏng do lũ, triều và tổ hơp lũ - triều. cụ thể: Nhóm kịch bản mô phỏng ảnh hưởng của lũ; triều cường theo tần suất; tổ hợp lũ - triều. - Xây dựng bộ bản đồ mô phỏng ngập lụt theo các kịch bản và dây là bộ sản phẩm kết quả của luận văn.
Kết luận và kiến nghị - Qua kết quả nghiên cứu nêu lên kết luận về nguyên nhân và ảnh hưởng ngập lụt ở khu vực tỉnh Tiền Giang. Đề xuất các ứng dụng kết quả trong phục vụ phòng chống thiên tai, quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Hình 1.
Một số hình ảnh miêu tả khái niệm lũ, lụt [2]. Nước lũ do mưa (hay băng, tuyết ở những nước vùng vĩ độ cao) sinh ra nên mùa lũ thường đi đôi với mùa mưa. Mùa lũ ở Bắc bộ từ tháng 5-6 đến tháng 9-10, Bắc Trung bộ từ tháng 6-7 đến tháng 10-11, Trung và Nam Trung bộ: tháng 10-12, Tây 8 nguyên: tháng 6-12, Nam bộ: tháng 7-12. Tuy vậy, đầu mùa mưa cũng có thể có lũ sớm, như lũ “tiểu mãn”, thường xảy ra vào “tiết tiểu mãn” (tháng 5) hàng năm ở vùng núi phía bắc nước ta.
Song mùa lũ hàng năm cúng biến động cùng với mùa mưa, thậm chí sớm muộn 1-2 tháng so với trung bình nhiều năm. Lũ lụt là hiện tượng thuỷ văn đặc biệt nguy hiểm, nhất là lũ quét. Trong một số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, như trận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khu vực thị xã. Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi cao chen kẽ với thung lũng và sông suối thấp.
Vào các tháng mùa mưa có các trận mưa lớn, cường độ mạnh, nước mưa tích luỹ nhanh, nếu đất tại chỗ đã no nước thì nước mưa đổ cả vào dòng chảy, dễ gây ra lũ. Tổng quan về nghiên cứu ảnh hưởng của lũ, ngập lụt 1. Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới việc nghiên cứu, áp dụng các mô hình thủy văn, thủy lực cho việc mô phỏng ảnh hưởng của lũ, ngập lụt đã được sử dụng khá phổ biến; nhiều mô hình đã được xây dựng và áp dụng cho dự báo hồ chứa, dự báo lũ trên các hệ thống sông, phục vụ cho công tác qui hoạch phòng lũ. Một số mô hình đã được ứng dụng thực tế trong công tác mô phỏng và dự báo dòng chảy cho các lưu vực sông có thể được liệt kê ra như sau: Viện Thủy lực Đan Mạch (Danish Hydraulics Institute, DHI) xây dựng phần mềm dự báo lũ bao gồm: Mô hình NAM tính toán và dự báo dòng chảy từ mưa; Mô hình MIKE 11 tính toán thủy lực, dự báo dòng chảy trong sông và cảnh báo ngập lụt.
Phần mềm này đã được áp dụng rất rộng rãi và rất thành công ở nhiều nước trên thế giới. Trong khu vực Châu Á, mô hình đã được áp dụng để dự báo lũ lưu vực sông Mun-Chi và Songkla ở Thái Lan, lưu vực sông ở Bangladesh và Kenya [50]-[52]. Wallingford kết hợp với Hacrow đã xây dựng phần mềm ISIS cho tính toán dự báo lũ và ngập lụt. Phần mềm bao gồm các môđun: Mô hình đường đơn vị tính toán và dự báo dòng chảy từ mưa; mô hình ISIS tính toán thủy lực, dự báo dòng chảy trong sông và cảnh báo ngập lụt.
Phần mềm này đã được áp dụng khá rộng rãi ở nhiều nước 9 trên thế giới, đã được áp dụng cho sông Mê Kông trong chương trình Sử dụng Nước do ủy hội Mê Kông Quốc tế chủ trì thực hiện [57]. Ở Việt Nam, mô hình iSIS được sử dụng để tính toán trong dự án phân lũ và phát triển thủy lợi lưu vực sông Đáy do Hà Lan tài trợ. Trung tâm khu vực, START Đông Nam Á (Southeast Asia START Regional Center) đang xây dựng “Hệ thống dự báo lũ thời gian thực cho lưu vực sông Mê Kông”. Hệ thống này được xây dựng dựa trên mô hình thủy văn khu vực có thông số phân bố, tính toán dòng chảy từ mưa.
Hệ thống dự báo được phân thành 3 phần: thu nhận số liệu từ vệ tinh và các trạm tự động, dự báo thủy văn và dự báo ngập lụt. Thời gian dự kiến dự báo là 1 hoặc 2 ngày. Viện Điện lực (EDF) của Pháp đã xây dựng phần mềm TELEMAC tính các bài toán thuỷ lực 1 và 2 chiều [51]-[52], [61]. TELEMAC-2D là phần mềm tính toán thủy lực 2 chiều, nằm trong hệ thống phần mềm TELEMAC.
TELEMAC-2D đã được kiểm nghiệm theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Châu Âu về độ tin cậy; mô hình này đã được áp dụng tính toán rất nhiều nơi ở Cộng hòa Pháp và trên thế giới. Ở Việt Nam, mô hình đã được cài đặt tại Viện Cơ học Hà Nội và Khoa Xây dựng - Thuỷ lợi - Thuỷ điện, Trường Đại học Kỹ thuật Đà nẵng và đã được áp dụng thử nghiệm để tính toán dòng chảy tràn vùng Vân Cốc - Đập Đáy [26], lưu vực sông Hồng đoạn trước Hà Nội [47], và tính toán ngập lụt khu vực thành phố Đà Nẵng. Trung tâm kỹ thuật thủy văn (Mỹ) đã xây dựng bộ mô hình HEC-1 để tính toán thủy văn, trong đó có HEC-1F là chương trình dự báo lũ từ mưa và diễn toán lũ trong sông. Mô hình đã được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới.
Ở Châu Á, mô hình đã được áp dụng ở Indonesia, Thái Lan. Mô hình cũng đã được áp dụng để tính toán lũ hệ thống sông Thu Bồn ở Việt Nam [27]. Gần đây, mô hình được cải tiến và phát triển thành HMS có giao diện đồ hoạ thuận lợi cho người sử dụng. Trong một nghiên cứu về hệ thống dự báo lũ cho sông Maritsa và Tundzha [54], đã kết hợp sử dụng mô đun mưa - dòng chảy MIKE 11-NAM và mô đun thủy lực MIKE 11-HD để tiến hành dự báo.
Các mô hình này đã được hiệu chỉnh sử dụng số liệu các trận lũ năm 2005 và 2006. Kết quả từ hai mô hình này được kết hợp sử dụng 10 với phần mềm FloodWatch để kết xuất ra mực nước dự báo và các cảnh báo tại các điểm xác định. Kết quả cho thấy rằng, số liệu đầu vào quyết định độ lớn của thời gian dự kiến. Kết quả sẽ chính xác hơn nếu thời gian dự kiến ngắn và ngược lại.
Trong nghiên cứu này cũng đã sử dụng chức năng cập nhật mực nước và lưu lượng tính toán theo mực nước và lưu lượng thực đo tại các vị trí biên đầu vào. Vidyapriya và Ramalingam (2019) [40], đã áp dụng mô hình hóa lũ lụt thủy lực bằng phần mềm MIKE URBAN đã được ứng dụng tại Ấn Độ cho thành phố Chennai, nơi gặp phải vấn đề nghiêm trọng liên quan đến ngập lụt đô thị. Nghiên cứu này đã phát triển một phương pháp luận để mô phỏng toàn diện các quá trình ngập lụt bằng cách sử dụng các mô hình thủy động lực học 1D. Bằng cách cho phép giải pháp đồng thời các quá trình lượng mưa và dòng chảy, thoát nước đô thị và lũ lụt, phương pháp này có thể được sử dụng để ước tính rủi ro ngập lụt tiềm ẩn của bất kỳ hệ thống thoát nước được thiết kế nào.
Mô hình được phát triển sau đó đã được trình diễn trên Chennai 2005 trong các điều kiện của các cơn bão thiết kế 5 năm, 10 năm, 25 năm và 50 năm. Sau khi hiệu chuẩn, mô hình ghép nối 1D-2D có thể được tích hợp với hệ thống giám sát trực tuyến và Internet để phát triển mô hình thời gian thực cho dự báo thủy văn và hỗ trợ quyết định. Nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, một trong những mô hình được ứng dụng nhiều trong công tác dự báo lũ ở Việt Nam là mô hình thủy lực MIKE 11, có thể kể đến một số nghiên cứu được áp dụng như: Mai Văn Khiêm và cs (2019) [3]: “Nghiên cứu khả năng đáp ứng của hệ thống thoát nước trên địa bàn TP.HCM trong điều kiện biến đổi khí hậu” với những mục tiêu cơ bản là: Đánh giá diễn biến mưa trong thời gian gần đây dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, sự xuất hiện của các giá trị mưa vượt tần suất thiết kế trên địa bàn TP.