Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 75 quốc gia và vùng lãnh thổ, cướp đi sinh mạng của 449 người trong tổng số 844 ca nhiễm chủng H5N1, đạt tỷ lệ tử vong lên tới 53,20%. Tại Việt Nam, kể từ ổ dịch đầu tiên vào tháng 12 năm 2003 đến năm 2015, toàn quốc đã ghi nhận 5.611 ổ dịch cúm gia cầm, buộc phải tiêu hủy bắt buộc hơn 60 triệu con gia cầm và ghi nhận 127 ca nhiễm trên người với 64 trường hợp tử vong. Sự xuất hiện của biến chủng virus cúm A/H5N6 từ tháng 8 năm 2014 tại Lạng Sơn và Hà Tĩnh đã đặt ra thách thức đặc biệt nghiêm trọng, bởi kết quả giải trình tự gen cho thấy mức độ tương đồng lên tới 99% so với chủng virus từng gây tử vong trên người tại Trung Quốc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào việc đánh giá mức độ phơi nhiễm và nguy cơ phát tán mầm bệnh tại các chợ buôn bán gia cầm sống – nơi giao thương phức tạp, thiếu điều kiện vệ sinh thú y và có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người với động vật. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định tỷ lệ lưu hành của virus cúm type A, subtype H5 và N6 tại các chợ gia cầm sống thuộc ba tỉnh trọng điểm phía Bắc gồm Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2016. Đồng thời, đề tài ứng dụng quy trình Realtime RT-PCR nhằm rút ngắn thời gian chẩn đoán, hỗ trợ hệ thống cảnh báo sớm dịch bệnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực địa chính xác, đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả tiêm phòng vắc xin và hoàn thiện khung chính sách kiểm soát dịch bệnh truyền lây nguy hiểm giữa động vật và con người.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết virus học phân tử và dịch tễ học thú y hiện đại. Virus cúm gia cầm thuộc nhóm virus cúm type A, họ Orthomyxoviridae, mang vật chất di truyền là hệ gen RNA sợi đơn âm gồm 8 phân đoạn riêng biệt mã hóa cho 11 protein chức năng. Cấu trúc kháng nguyên bề mặt của virus được quyết định bởi hai glycoprotein quan trọng gồm Hemagglutinin với 16 subtype từ H1 đến H16 và Neuraminidase với 9 subtype từ N1 đến N9. Cơ chế xâm nhiễm của virus khởi đầu bằng việc phân tử Hemagglutinin liên kết đặc hiệu với thụ thể Gal alpha-2,3 sialic acid trên biểu mô đường hô hấp của gia cầm, trong khi enzyme Neuraminidase đóng vai trò cắt đứt cầu nối acid sialic để giải phóng các hạt virus mới nhân lên khỏi màng tế bào.

Hai mô hình biến đổi di truyền cốt lõi chi phối sự tiến hóa của virus cúm gồm hiện tượng lệch kháng nguyên tạo ra các đột biến điểm với tần suất trung bình 1 sai khác trên 10.000 nucleotide, và hiện tượng trôi hoặc trộn kháng nguyên khi hai chủng virus khác nhau cùng tái tổ hợp trong một tế bào vật chủ. Về mặt độc lực, virus cúm gia cầm được phân chia thành hai nhóm: chủng độc lực thấp gây triệu chứng nhẹ và chủng độc lực cao có khả năng phá hủy đa phủ tạng, gây tỷ lệ tử vong từ 20% đến 100% trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi nhiễm bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích để thu thập, đánh giá số liệu chăn nuôi, công tác tiêm phòng và diễn biến 70 ổ dịch trong giai đoạn 2010 đến tháng 6 năm 2016 tại ba tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Cỡ mẫu giám sát thực địa được thu thập tại 12 chợ buôn bán gia cầm sống tiêu biểu, gồm 4 chợ tại Hải Phòng, 4 chợ tại Lạng Sơn và 4 chợ tại Quảng Ninh. Phương pháp lấy mẫu dịch ngoáy hầu họng áp dụng quy tắc gộp 5 mẫu đơn thành 1 mẫu xét nghiệm ngay tại thực địa nhằm tối ưu hóa chi phí và tăng thông lượng phân tích, thu thập định kỳ 30 mẫu gà và 30 mẫu vịt mỗi chợ trong từng đợt giám sát. Mẫu môi trường gồm 1 mẫu phân tươi, 2 mẫu chất thải lồng nhốt, 2 mẫu nước thải và 2 mẫu nước uống cho gia cầm tại mỗi điểm chợ.

Toàn bộ mẫu bệnh phẩm được bảo quản trong môi trường đệm PBS-Glycerol ở nhiệt độ 4 độ C và vận chuyển về phòng thí nghiệm trong vòng 48 giờ. Quy trình xét nghiệm chẩn đoán Realtime RT-PCR được thực hiện theo tiêu chuẩn cơ sở TCCS 16:2016/TYV2-CĐ của Cơ quan Thú y vùng II, sử dụng kít chiết tách RNA tự động và hóa chất One-Step RT-PCR kết hợp hệ mẫu dò Taqman probe đặc hiệu gồm đoạn mồi M-4 phát hiện type A, H5-9S phát hiện subtype H5 và N6-1 phát hiện subtype N6. Kết quả phản ứng được đánh giá dương tính khi giá trị chu kỳ ngưỡng Ct nhỏ hơn hoặc bằng 35 với mẫu đối chứng dương đạt Ct nhỏ hơn hoặc bằng 25. Dữ liệu dịch tễ được xử lý thống kê bằng phần mềm WinEpiscope 2.0 với khoảng tin cậy 95% và số hóa không gian bằng phần mềm ArcGIS 9.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả giám sát trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ dương tính chung với virus cúm type A tại các chợ gia cầm sống là 34,89% với khoảng tin cậy 95% từ 32,21% đến 37,63%. Tỷ lệ này có sự phân hóa rõ rệt giữa các địa bàn: Quảng Ninh ghi nhận tỷ lệ cao nhất đạt 50,23% (khoảng tin cậy 45,41% - 55,05%), Lạng Sơn đạt 31,67% (khoảng tin cậy 26,89% - 36,75%) và Hải Phòng đạt 22,22% (khoảng tin cậy 18,39% - 26,44%). Toàn bộ 12 trên 12 chợ (100%) được khảo sát đều có sự hiện diện của virus cúm type A.

Đối với các phân type độc lực cao, tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 đạt mức trung bình 6,45% (khoảng tin cậy 6,43% - 6,51%), trong đó Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 8,10%, Lạng Sơn đạt 6,39% và Quảng Ninh là 4,86%. Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trung bình toàn vùng đạt 5,15% (khoảng tin cậy 5,12% - 5,20%), dẫn đầu là Hải Phòng với 7,87%, tiếp theo là Lạng Sơn với 4,44% và Quảng Ninh đạt 3,01%. Đặc biệt, có 10 trên 12 chợ (chiếm tỷ lệ 83,33%) phát hiện sự đồng lưu hành của cả hai phân type H5 và N6.

Trong giai đoạn 2010 đến 2016, tổng cộng 70 ổ dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại 3 địa phương. Quảng Ninh xảy ra 34 ổ dịch làm tiêu hủy 52.039 con gia cầm, Hải Phòng ghi nhận 25 ổ dịch với 106.881 con gia cầm bị tiêu hủy và Lạng Sơn xảy ra 11 ổ dịch làm tiêu hủy 7.428 con gia cầm. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ vắc xin trung bình giai đoạn này chỉ đạt 46,64% tại Quảng Ninh, 42,96% tại Hải Phòng, trong khi Lạng Sơn chỉ tiêm phòng bao vây khẩn cấp khi có ổ dịch xuất hiện, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu tối thiểu 80% theo quy định tại Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT.

Thảo luận kết quả

Mức độ lưu hành cao của virus cúm gia cầm tại các chợ sống bắt nguồn từ thực trạng chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ chiếm trên 85% tổng đàn gia cầm tại các tỉnh khảo sát. Tại Hải Phòng với tổng đàn 6,4 đến 7,6 triệu con, có tới 259 chợ buôn bán và 338 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ nhưng chỉ có 2 cơ sở giết mổ tập trung. Tình trạng tương tự diễn ra tại Quảng Ninh với 138 chợ và Lạng Sơn với 54 chợ gia cầm. Hoạt động giết mổ ngay tại điểm bán không có vách ngăn, nước thải và chất thải không được xử lý định kỳ đã biến các khu chợ thành nguồn lưu cữu và phát tán mầm bệnh liên tục.

Bên cạnh đó, Lạng Sơn và Quảng Ninh là hai tỉnh biên giới chịu áp lực cực lớn từ hoạt động vận chuyển gia cầm nhập lậu qua đường mòn, lối mở. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2016, cơ quan chức năng Quảng Ninh đã tịch thu tiêu hủy 31.200 con gà lậu và Lạng Sơn xử lý 30.020 con gà lậu chưa qua kiểm dịch. Sự giao lưu thương mại đưa lượng gia cầm này phân tán ngược về Hải Phòng và các tỉnh lân cận, làm tăng tỷ lệ phát hiện subtype H5 và N6 tại các chợ đầu mối.

Sự phân bố dịch tễ theo thời gian cho thấy lưu hành virus tăng vọt vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 hàng năm. Đây là thời điểm trùng với mùa đông xuân có nhiệt độ thấp ẩm và nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao dịp Tết Nguyên đán. Về mặt trình bày dữ liệu, các biến thiên dịch tễ học này được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ nhiễm giữa các quý và bản đồ phân bố không gian mật độ ổ dịch từ phần mềm ArcGIS 9, giúp các nhà quản lý dịch tễ nhận diện rõ nét những hành lang lây truyền trọng điểm giữa các tỉnh duyên hải và biên giới phía Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập mạng lưới giám sát virus chủ động định kỳ hàng tháng bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR tại 100% các chợ buôn bán gia cầm sống và điểm tập kết đầu mối. Cơ quan Thú y vùng II phối hợp với Chi cục Thú y các tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn, Quảng Ninh thực hiện lấy mẫu gộp dịch ngoáy hầu họng và mẫu nước thải môi trường, bảo đảm thời gian xét nghiệm và trả kết quả dưới 4 giờ để phát hiện sớm các biến chủng virus mới xâm nhập.

Thứ tư, nâng cao tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm đạt mục tiêu bảo hộ tối thiểu 80% tổng đàn trong diện tiêm theo đúng quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ủy ban nhân dân các tỉnh cần phê duyệt ngân sách hàng năm trước tháng 9, bố trí kinh phí mua các dòng vắc xin tương thích cao với chủng H5N6 nhánh 2.3.4.4 đang lưu hành như Navet-Vifluvac, Re-5 và Re-6, kết hợp tổ chức 2 đợt tiêm phòng chính vào vụ xuân hè và thu đông cho toàn bộ đàn gà, vịt tại các nông hộ.

Thứ ba, tăng cường kiểm soát vận chuyển liên tỉnh và ngăn chặn triệt để tình trạng buôn bán gia cầm lậu qua biên giới. Lực lượng liên ngành gồm Thú y, Quản lý thị trường, Công an và Bộ đội Biên phòng tại Lạng Sơn và Quảng Ninh cần duy trì chốt chặn 24/24 giờ tại các tuyến đường mòn, kiểm tra 100% phương tiện vận chuyển gia cầm thương phẩm, kiên quyết xử lý tiêu hủy và truy cứu trách nhiệm đối với các lô hàng không có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình vệ sinh tiêu độc khử trùng và quy hoạch lại các chợ buôn bán gia cầm sống. Ban quản lý các chợ dân sinh cần phối hợp với mạng lưới thú y cơ sở triển khai ngày làm sạch chợ định kỳ 1 lần mỗi tuần, phun thuốc sát trùng tiêu độc toàn bộ lồng nhốt và khu vực bán hàng sau mỗi phiên chợ, đồng thời từng bước chuyển đổi mô hình giết mổ tại chỗ sang các cơ sở giết mổ bán công nghiệp tập trung nhằm triệt tiêu nguồn lây truyền virus sang người.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý và chuyên viên dịch tễ thuộc Cục Thú y, Cơ quan Thú y vùng và Chi cục Chăn nuôi Thú y các tỉnh: Luận văn cung cấp mô hình giám sát thực địa khoa học, số liệu lưu hành chi tiết và cơ sở dịch tễ chuẩn xác để tham mưu chính sách phân bổ ngân sách mua vắc xin phòng dịch hàng năm.

Nhóm nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thú y, Bệnh học động vật và Công nghệ sinh học: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về quy trình chuẩn hóa kỹ thuật Realtime RT-PCR phát hiện virus cúm A/H5N6, kỹ năng thiết kế mẫu gộp trong điều tra dịch tễ học thực địa và phương pháp phân tích thống kê dịch tễ chuyên sâu.

Nhóm chủ trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm quy mô gia trại và công nghiệp: Cung cấp thông tin thực tế về độc lực, thời điểm lưu hành đỉnh điểm của các phân type virus và hướng dẫn lựa chọn các chủng vắc xin bảo hộ chéo phù hợp để xây dựng quy trình an toàn sinh học nghiêm ngặt cho đàn vật nuôi.

Nhóm chuyên gia y tế công cộng và cán bộ thuộc chương trình phòng chống bệnh truyền lây từ động vật sang người One Health: Tài liệu giúp nhận định nguy cơ lây nhiễm chéo của biến chủng H5N6 tại các chợ truyền thống, từ đó xây dựng các kịch bản cảnh báo sớm và truyền thông thay đổi hành vi giết mổ cho cộng đồng dân cư.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật Realtime RT-PCR có ưu điểm gì vượt trội so với phương pháp PCR truyền thống trong chẩn đoán cúm gia cầm? Phương pháp Realtime RT-PCR phát hiện và định lượng trực tiếp sự khuếch đại vật chất di truyền thông qua tín hiệu huỳnh quang Taqman probe trong thời gian thực. Kỹ thuật này loại bỏ hoàn toàn bước điện di trên gel agarose, rút ngắn thời gian trả kết quả từ vài ngày xuống dưới 4 giờ, đồng thời hạn chế tối đa nguy cơ ngoại nhiễm chéo giữa các mẫu phẩm trong phòng thí nghiệm.

Tại sao tỷ lệ nhiễm virus cúm type A tại Quảng Ninh lại cao nhất trong ba địa phương nghiên cứu? Quảng Ninh ghi nhận tỷ lệ nhiễm cúm type A lên tới 50,23% do địa bàn có đường biên giới kéo dài, lượng giao lưu gia cầm sống qua 138 chợ dân sinh rất lớn cùng sự tồn tại của 127 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ. Áp lực từ hoạt động vận chuyển gia cầm không rõ nguồn gốc đã khiến mầm bệnh tích tụ và phát tán liên tục tại các điểm chợ.

Virus cúm gia cầm A/H5N6 phát hiện tại Việt Nam có nguy hiểm đối với sức khỏe con người không? Chủng cúm A/H5N6 rất nguy hiểm bởi kết quả giải trình tự gen cho thấy độ tương đồng 99% với biến thể từng gây tử vong trên người tại Trung Quốc. Mặc dù chưa có bằng chứng lây truyền dễ dàng từ người sang người, virus có độc lực cao và liên tục đột biến, tiềm ẩn nguy cơ gây suy hô hấp cấp nặng khi người tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bệnh.

Việc gộp 5 mẫu dịch ngoáy hầu họng thành 1 mẫu xét nghiệm mang lại lợi ích gì trong giám sát thực địa? Phương pháp gộp 5 mẫu đơn thành 1 mẫu xét nghiệm giúp giảm 80% chi phí hóa chất kít chiết tách và enzyme khuếch đại gen, cho phép mở rộng quy mô điều tra trên hàng ngàn cá thể gia cầm trong cùng một đợt giám sát mà vẫn duy trì độ nhạy chẩn đoán cao theo đúng quy chuẩn của Cơ quan Thú y vùng II.

Những loại vắc xin nào hiện nay có khả năng phòng bệnh hiệu quả đối với virus cúm A/H5N6? Theo khuyến cáo của Cục Thú y, các dòng vắc xin được chỉ định phòng chống hiệu quả chủng virus cúm A/H5N6 thuộc nhánh 2.3.4.4 gồm vắc xin Navet-Vifluvac và các dòng vắc xin H5N1 Re-5, Re-6. Các loại vắc xin này tạo đáp ứng miễn dịch dịch thể cao và bảo hộ đàn gia cầm an toàn khi đạt tỷ lệ tiêm phòng trên 80% diện đàn.

Kết luận

  • Luận văn xác định chính xác tỷ lệ lưu hành virus cúm gia cầm type A đạt 34,89%, phân type H5 đạt 6,45% và phân type N6 đạt 5,15% tại các chợ gia cầm sống thuộc ba tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.
  • Phát hiện 100% số chợ khảo sát có sự hiện diện của virus cúm type A và 83,33% số chợ đồng lưu hành cả hai phân type độc lực cao H5 và N6.
  • Ứng dụng thành công quy trình kỹ thuật Realtime RT-PCR theo tiêu chuẩn cơ sở TCCS 16:2016/TYV2-CĐ, khẳng định tính ưu việt về độ nhạy, độ đặc hiệu và tốc độ phục vụ cảnh báo dịch bệnh khẩn cấp.
  • Chỉ ra thực trạng đáng báo động khi tỷ lệ bao phủ vắc xin cúm gia cầm tại các tỉnh chỉ dao động từ 42,96% đến 46,64%, chưa đáp ứng ngưỡng bảo hộ tối thiểu 80% theo quy định thú y.
  • Xác định quy luật mùa vụ với đỉnh điểm bùng phát mầm bệnh tập trung vào tháng 12, tháng 1 và tháng 2 hàng năm do tác động của thời tiết và nhu cầu vận chuyển gia cầm dịp cận Tết.

Đóng góp quan trọng nhất của công trình là cung cấp bức tranh dịch tễ học thực địa toàn diện về chủng cúm mới A/H5N6 tại các đầu mối giao thương cửa ngõ, chứng minh giá trị của hệ thống giám sát phân tử chủ động. Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng giải trình tự toàn bộ hệ gen các chủng phân lập được nhằm theo dõi sát các đột biến kháng thuốc và biến đổi kháng nguyên trong giai đoạn 2017 đến 2020. Các cơ quan quản lý nông nghiệp và thú y địa phương cần nhanh chóng áp dụng kết quả nghiên cứu này để hoàn thiện quy trình kiểm soát gia cầm sống tại chợ và triển khai chiến dịch tiêm phòng đồng bộ ngay trong vụ tới.