CHƯƠNG I. Tổng quan về nước thải sinh hoạt 1. Khái niệm và phân loại Theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 14:2008/BTNMT [1]: Nước thải sinh hoạt là nước thải của các hoạt động sinh hoạt từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác. Nước thải sinh hoạt gồm hai loại chính: - Nước thải đen: nước thải có độ nhiễm bẩn rất cao do chất bài tiết của con người từ nhà vệ sinh, thường được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại.
Tuy nhiên, hầu như chất lượng đầu ra sau bể tự hoại vẫn chưa đạt tiêu chuẩn, nhưng nhờ bể tự hoại mà một lượng lớn chất ô nhiễm được xử lý. - Nước thải xám: nước thải có nồng độ nhiễm bẩn thấp hơn nước thải đen, phát sinh từ các hoạt động tại nhà bếp, tắm giặt, vệ sinh nhà cửa… Nước thải xám hầu như chưa được xử lý và thải trực tiếp ra môi trường. Đặc trưng của nước thải sinh hoạt Đặc trưng của nước thải sinh hoạt có hàm lượng chất dinh dưỡng nitơ và phốt pho (N, P) cao đặc biệt là hợp chất hữu cơ chứa nitơ. Ngoài ra trong nước thải sinh hoạt có chứa hàm lượng lớn các chất rắn lơ lửng, BOD5, coliform, dầu mỡ và các chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc phát sinh do sử dụng các chất tẩy rửa trong sinh hoạt.
Đặc tính của nước thải sinh hoạt thông thường Chỉ tiêu Nồng độ Cao Trung bình Thấp BOD5 400 220 110 COD 1000 500 250 Amoni 50 25 12 TN 85 40 20 TP 15 8 4 TSS 1200 720 350 SS 250 220 100 (Nguồn: Metcalf và Eddy. Trích bởi Chongrak 1989) 1. Hiện trạng nước thải sinh hoạt tại Việt Nam Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề nước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thải từ các khu đô thị, thu dân cư tại các thành phố lớn. Theo số liệu thống kê của Bộ 4 Tài nguyên và Môi trường tính đến năm 2017, tổng lưu lượng nước thải xả thải trên toàn quốc theo giấy phép xả thải đã cấp khoảng 100 triệu m3/ ngày đêm.
Tùy theo khu vực, tỷ lệ nước thải phát sinh từ các nguồn là khác nhau (Hình 1. Tuy nhiên, lượng nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu nước thải phát sinh, trong đó khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước. Hà Nội là thành phố lớn tập trung đông dân cư, do đó lượng nước thải sinh hoạt phát sinh cao, chiếm 37% tổng lượng lượng thải sinh hoạt của Đồng bằng sông Hồng, thành phố Hồ Chí Minh chiếm trên 54% tổng lượng nước thải của vùng Đông nam bộ [2]. Tỷ lệ phát sinh nước thải sinh hoạt tại các vùng trên cả nước (Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia 2018) Số liệu báo cáo năm 2018 cho thấy, tỷ lệ nước thải sinh hoạt ở các đô thị loại IV trở lên được thu gom, xử lý đạt khoảng 12,5%.
Tại Hà Nội, lượng nước thải được xử lý tại khu xử lý nước thải thải tập trung cao hơn các khu đô thị khác tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Tổng lượng nước thải sinh hoạt của thành phố được xử lý ước tính là 20,62%. Hiện nay vẫn có nhiều nguồn xả không được kiểm soát và thải trực tiếp ra môi trường. Sông Tô Lịch, sông Nhuệ trên thực tế đã trở thành một phần của hệ thống thoát nước thải của Thành phố Hà Nội và nước sông trở nên đen sẫm, bốc mùi như nước cống.
Như vậy, tình hình phát sinh nước thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề đáng được quan tâm và cần có những biện pháp phù hợp đến ngăn chặn nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt Xử lý nước thải sinh hoạt nhằm loại bỏ các thành phần ô nhiễm bao gồm các chất không tan, chất ít tan và những hợp chất tan trong nước, làm sạch nước và có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận. Việc lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp thường được căn cứ trên đặc điểm của các loại tạp chất có trong nước thải. Các phương pháp chính thường được sử dụng trong các công trình xử lý nước thải sinh hoạt là: phương pháp cơ học, hóa học, hóa lý, và sinh học.
a) Phương pháp xử lý cơ học Phương pháp xử lý cơ học để loại bỏ các hợp chất hữu cơ không hòa tan, tồn tại trạng thái lơ lửng và một phần các chất dạng keo ra khỏi nước thải. Những công trình xử lý cơ học bao gồm: song chắn rác, bể điều hòa, bể lắng, bể lọc, bể tách dầu mỡ… Phương pháp xử lý cơ học có thể loại bỏ 60% các hợp chất không tan và 20% BOD trong nước thải. Ngoài ra, phương pháp này có thể xử lý hàm lượng lớn các chất lơ lửng. Thông thường, xử lý cơ học chỉ là giai đoạn tiền xử lý trước khi chuyển sang phương pháp xử lý hóa học hay sinh học.
b) Phương pháp xử lý hóa học Phương pháp xử lý hóa học là đưa vào nước thải chất phản ứng để tham gia các phản ứng hóa học với các chất ô nhiễm có trong nước thải nhằm tách các chất bẩn trong nước thải dưới dạng cặn lắng hay dưới dạng hòa tan không độc hại. Các phương pháp hóa học dùng trong hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt gồm có: trung hòa, oxy hóa khử, tạo kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các hợp chất độc hại. Ưu điểm của phương pháp này là có hiệu quả xử lý cao, hóa chất dễ kiếm trên thị trường, công trình tốn ít diện tích, thường được sử dụng trong các hệ thống xử lý nước khép kín. Tuy nhiên, chi phí vận hành cao, không thích hợp cho các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt với quy mô lớn, tính toán xử lý phức tạp, đòi hỏi kỹ sư phải có chuyên môn, sản phẩm cuối của quá trình cần có biện pháp xử lý hiệu quả.
c) Phương pháp xử lý hóa lí Phương pháp hoá lý trong quá trình xử lý nước thải sinh hoạt là áp dụng các quá trình vật lý và hoá học để đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học, tạo thành các chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hoà tan nhưng không độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường. Những phương pháp hoá lý thường được áp dụng để xử lý nước thải là: keo tụ, tuyển nổi, đông tụ, hấp phụ, trao đổi ion, thấm lọc ngược và siêu lọc… Giai đoạn xử lý hoá lý có thể là giai đoạn xử lý độc lập hoặc xử lý cùng với các phương pháp cơ học, hoá học, sinh học trong công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh [3]. 6 d) Phương pháp xử lý sinh học Phương pháp sinh học trong quá trình xử lý nước thải sinh hoạt là sử dụng khả năng sống và hoạt động của các vi sinh vật có ích để phân huỷ các chất hữu cơ và các thành phần ô nhiễm trong nước thải. Các quá trình xử lý sinh học chủ yếu có năm nhóm chính: quá trình hiếu khí, quá trình trung gian anoxic, quá trình kị khí, quá trình kết hợp hiếu khí – trung gian anoxic – kị khí [4].
Phương pháp này thường được sử dụng để làm sạch nước thải có chứa các chất hữu cơ hòa tan hoặc các chất phân tán nhỏ, keo. Đối với các chất vô cơ có trong nước thải thì phương pháp này dùng để khử các hợp chất sunfit, muối amoni nitrat – tức là các chất chưa bị oxy hóa hoàn toàn. Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy sinh hóa các chất bẩn sẽ là CO2, H2O, N2, SO42-,… Một trong những phương pháp sinh học xử lý nước thải là sử dụng sinh vật, thực vật thủy sinh và vi tảo là những loài sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước. Chúng có tốc độ sinh trưởng khá nhanh và phân bố rộng.
Một số loài thực vật thủy sinh vừa có khả năng xử lý nước thải, vừa tận dụng làm phân compost và làm thức ăn gia súc. Hiện nay các loại vi tảo và vi khuẩn lam (tảo lam) đươc ứng dụng nhiều trong xử lý nước thải, đặc biệt là nước thải giàu dinh dưỡng. Tảo được nuôi trong các bể ngoài trời được khuấy trộn thường xuyên và cung cấp thêm CO2. Các chất ô nhiễm trong nước thải chủ yếu là N và P là nguồn dinh dưỡng chính cho tảo phát triển.
Tuy nhiên, nước thải phải đảm bảo độ đục không cao để không cản trở quá trình quang hợp của tảo. Sinh khối rong, tảo sau đó sẽ được tận dụng làm thức ăn cho gia súc, thủy sản, làm phân bón, hoặc làm nguyên liệu sinh học [5]. Phương pháp sinh học ngày càng được nghiên cứu sâu và sử dụng rộng rãi vì có nhiều ưu điểm hơn các phương pháp khác. Xử lý sinh học giúp phân huỷ các chất trong nước thải nhanh, triệt để mà không gây ô nhiễm môi trường.
Có thể xử lý nước thải có phổ nhiễm bẩn chất hữu cơ rộng. Thiết bị đơn giản, phương pháp dễ làm, có thể tận dụng nhiên liệu có sẵn trong tự nhiên, thân thiện với môi trường. Sản phẩm cuối cùng thường không gây ô nhiễm thứ cấp và chi phí xử lý thấp hoặc tạo ra được một số sản phẩm có ích để sử dụng trong công nghiệp và sinh hoạt (Biogas, etanol.), trong nông nghiệp (phân bón). Tuy nhiên, phương pháp này có thời gian xử lý kéo dài, hệ thống phải hoạt động liên tục.
Bên cạnh đó, quá trình xử lý chịu ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, pH, DO, hàm lượng các chất dinh dưỡng. Trên thực tế, đòi hỏi diện tích khá lớn để xây dựng mô hình xử lý. Cần phải pha loãng các nguồn thải có nồng độ chất hữu cơ quá cao do vậy làm tăng lượng nước thải cần xử lý. Vi khuẩn lam Spirulina platensis 1.
Đặc điểm phân loại và hình thái Hệ thống phân loại VKL Spirulina được phân loại như sau: - Ngành: Cyanobacteria - Lớp: Chlorobacteria - Bộ: Oscillatoriales - Họ: Phormidiaceae - Chi: Spirulina (Arthrospira) - Loài: Spirulina platensis (Arthrospira platensis) Spirulina platensis là một chủng vi khuẩn lam có màu xanh lam, có dạng hình xoắn lò xo, không phân nhánh, không có tế bào dị hình, không có bao (Hình 1. Sợi vi khuẩn lam có 5 – 7 vòng xoắn đều nhau (đường kính xoắn khoảng 35-50 µm, bước xoắn khoảng 60µm) phân chia thành những tế bào với vách ngăn và có thể xoay tròn xung quanh trục của nó.