Chương 1. Những van dé lý luận về người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi Chương 2. Quy định của pháp luật Việt Nam về việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi Chương 3. Thực tiễn áp dung và giải pháp nhằm đảm bảo thực thi pháp luật Việt Nam về người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 11 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE NGUOI NUOC NGOAI NHAN TRE EM VIET NAM LAM CON NUOI 1.1 Khái quát về van dé người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 1.1 Khai niệm vé con nuôi và nuôi con nuôi Con nuôi là thuật ngữ ding dé chỉ một đứa trẻ hoặc một người trưởng thành được nhận nuôi và chăm sóc như một thành viên trong gia đình, dù không có quan hệ huyết thống với người nhận nuôi.
Quan hệ con nuôi thường được xác lập xuất phát từ các lý do như tinh cảm, xã hội hay vấn dé pháp lý. Trong nhiều trường hợp, nhiều người nhận con nuôi vì tình yêu thương, lòng nhân ái quan tâm đến trẻ em mất cha mẹ hoặc không có người chăm sóc. Với nhiều cặp vợ chồng đang gặp phải vấn đề vô sinh, có nhiều người chọn con đường nhận nuôi dé thực hiện ước mơ trở thành cha me. Con nuôi cũng có thé là người trưởng thành mà gia đình nhận nuôi dé chăm sóc và hỗ trợ trong các tình huống khó khăn.
Việc nhận con nuôi không chỉ là cơ hội hình thành một gia đình mới mà còn là một hành động nhân đạo đối với những đứa trẻ cần được bảo vệ và chăm sóc, giúp giảm gánh nặng xã hội. Ở Việt Nam, con nuôi là “người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ky". Theo đó, đứa trẻ được nuôi duéng, chăm sóc bởi người không phải cha mẹ đẻ và được pháp luật công nhận trên cơ sở mong muốn xác lập quan hệ cha mẹ con. Việc nuôi con nuôi thường mở ra một quan hệ gia đình mới, trong đó người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi hình thành một mối quan hệ cha mẹ và con trong thực tế.
Khái niệm nuôi con nuôi được nhìn nhận trên hai phương diện là góc độ xã hội và góc độ pháp lý. Dưới góc độ xã hội, việc nuôi con nuôi không chỉ là một quan hệ gia đình mà còn là một quan hệ xã hội được thiết lập giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi. Quan hệ này có thể được xây dựng và phát triển nhờ tình yêu, chăm sóc và sự thấu hiểu đến từ hai phía không cùng huyết thống. Với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tìm được gia đình thay thế sẽ giúp những em này có môi trường sống thuận lợi, nhận được tỉnh yêu thương, có cơ hội học tập và phát triển.
Nhận con nuôi mang lại niềm vui, hy vọng với những cặp đôi gặp vấn dé về sinh sản hoặc người độc thân muốn chia sẻ tỉnh yêu thương tới một đứa trẻ; * Điều 3 LNCN năm 2010 12 Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ nuôi con nuôi đã xuất hiện từ khá lâu đời và được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Bộ luật Hammurabi, một trong những bộ luật thành văn cổ xưa nhất thế giới đã có quy định về nuôi con nuôi đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: “7rước khi dan ông có thể nuôi một dita trẻ bị bỏ rơi, ông ta phải tim cha mẹ đẻ của nó, nếu tim thấy thì phải trả đứa trẻ cho họ "5. Việc nhận thức tầm quan trọng của gia đình gốc đối với sự phát triển của trẻ em đã có từ sớm vi vậy mà từ cổ xưa cho tới hiện đại, trẻ em luôn là đối tượng được ưu tiên trước hết, “được chăm sóc bởi chính cha mẹ đẻ, được sống trong môi trường ruột thịt của mình "5 Theo hệ thống pháp luật La Mã cổ đại thì việc nhận nuôi con nuôi nhằm duy trì dong họ, thờ cúng tổ tiên và thừa kế tài sản. Thời ky cách mạng tư sản, nhận thức việc nuôi con nuôi mang ý nghĩa về mặt xã hội, gia đình nào càng đông con thì gia đình đó càng hạnh phúc.
Thời kỳ lập pháp hiện dai, Bộ luật dân sự (sau day viết tắt là BLDS) Napoleon năm 1804 đã xóa bỏ đối tượng con nuôi là trẻ vị thành niên và chỉ cho phép nuôi con nuôi là người trưởng thành và đã được chăm sóc trong gia đình cha mẹ nuôi 6 năm. Người nhận nuôi phải từ 50 tuổi trở lên và không có con nối déi. Do vậy, việc nuôi con nuôi chỉ xảy ra khi cha mẹ nuôi không có người thừa kế, con nuôi được giữ cả quyền của họ trong gia đình gốc và hưởng quyên thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi”. Theo Điều 124 Bộ luật gia đình của Liên bang Nga, hình thức được ưu tiên trong việc thu xếp mái Am cho những trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc là việc nuôi con nuôi.
Tại Trung Quốc quy định trẻ em dưới 14 tuổi bị mô côi, bị bỏ rơi, trẻ trong gia đình khó khăn không có khả năng nuôi dưỡng có thé được cho làm con nuôi”. Tại Guatermala, việc nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ em được nhận làm con nuôi dé bảo vệ theo quy định của pháp luật và Sắc lệnh do nhà nước giám sát theo đó một người nhận con ruột hoặc con của người khác làm con nuôi (Điều 2 Luật con nuôi). Con nuôi quốc tế là việc nhận con nuôi mà đứa trẻ thường trú hợp pháp tại 5 Mục 106 Bộ luật Hammurabi; 6 Điều 3 Tuyên ngôn Liên Hợp quốc 7 Bộ Tư pháp (2008), Bản tổng thuật Pháp luật một số nước về nuôi con nuôi, Tài liệu tham khảo của Dự an LNCN. 8 Bộ Tư pháp, Cục con nuôi (2009), Pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam và một số nước trên thé giới, NXB Thời đại, Hà Nội, tr.
36; ® Điều 4 LNCN nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngay 04/11/1998, có hiệu lực từ ngày 01/4/1999. 13 Guatemala được đưa đến một nước khác làm con nuôi. Nuôi con nuôi trong nước được hiểu là cha mẹ nuôi và con nuôi là người thường trú tại quốc gia này. Tóm lại, có thể hiểu khái niệm "nudi con nudi" là một hình thức của việc nuôi dưỡng một đứa trẻ không phải là con ruột của mình.
Mục đích của việc nuôi con nuôi là “nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu đài, bên vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bao dam cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo duc trong môi trường gia dinh”!. Việc nuôi con nuôi là quyết định mang tính tự nguyện, đòi hỏi sự cam kết lâu dài và tình yêu thương, trách nhiệm với việc chăm sóc và giáo duc đứa trẻ từ phía người nhận nuôi. Quá trình nhận nuôi có thé đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả về mặt tinh than và vật chất đối với hai bên. Đối với những cặp vợ chồng quyết định nhận nuôi, họ thường cân phải trải qua quy trình phê duyệt khắt khe và đào tạo dé dam bao họ có thé cung cấp một môi trường phủ hợp và sự yêu thương cho đứa trẻ được nhận nuôi.
Trong một số trường hợp, việc nhận nuôi có thé đòi hỏi sự can thiệp của các co quan pháp luật và tô chức chính phủ dé dam bao rằng quy trình nhận nuôi diễn ra đúng quy định và bao dam được quyền lợi của tất cả các bên liên quan.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tỖ nước ngoài Moi trẻ em đều xứng đáng được lớn lên trong một gia đình hạnh phúc, vi thé quan hệ nuôi con nuôi xuất hiện và ton tại từ trước tới nay nhằm khẳng định rằng quyền này được mở rộng cho tất cả trẻ em. Việc nhận con nuôi không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn xuất hiện các quan hệ nhận con nuôi giữa các công dân khác quốc gia. Hình thức nhận con nuôi “liên quan tới đứa trẻ sống tại quốc gia khác và cha mẹ nuôi tương lai sống ở nước khác và việc chuyển trẻ em sang nước đó dé sinh sống với cha mẹ nuôi”! là con muôi quốc fế (international adoption/ inter- country adoption hoặc transnational adoption) hay bởi tính chất vượt ra ngoài lãnh thé nên còn được gọi là con nuôi xuyên biên giới (cross-boder adoption). Hiện tượng 19 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: Quyền được khai sinh và có quốc tịch (@iéu 11); Quyén được cham sóc, nuôi dưỡng @iều 12); Quyển được sông chung với cha mẹ (Điều 13); Quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự (Điều 14) Quyên được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe (Điều 15); Quyền được học tập @iều 16); Quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch (Điều 17); Quyền được phát triển năng khiếu (Điều 18), Quyên được có tải sản (Điều 19), Quyên được tiếp cận thông tin, bay tỏ ý kiên và tham gia hoạt động xã hội (Điều 20).
11Diéu 2 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. (1994), “Convention on Protection of Children and Co-Operation in Respect of Intercountry Adoption” 63 Nordic J.185 14 này xây ra kể từ chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Triều Tiên, xuất phát từ những nỗ lực nhân đạo của toàn cầu nhằm giải cứu trẻ em có hoàn cảnh bất hạnh, bị mé côi do chiến tranh. Tir đó tới nay việc nhận con nuôi quốc tế càng trở nên phd biến song cũng là vấn dé mang lại rất nhiều tranh cãi. Quan điểm ủng hộ cho rằng hàng triệu trẻ em vô gia cư cần thức ăn, chỗ ở, sự chăm sóc trên thế giới và con nuôi quốc tế chính là giải pháp tối ưu cần được khuyến khích và điều chỉnh phù hợp.
Mặt khác, quan điểm phản đối đặt ra câu hỏi về mặt trái của việc nhận con nuôi quốc tế, cho rằng hành vi này không chỉ cướp đi nền tảng văn hóa của trẻ mà còn được sử dụng dé che giấu những vấn dé xã hội tiém ân như mua bán, lạm dụng trẻ em!?. Mặc dù có nhiều quan điểm trái chiều song hiện tượng con nuôi quốc tế dần phổ biến và tiếp tục gia tăng tần suất trong những thập kỷ gần đây “đo sự công nhận của các quốc gia gốc (sending countries) cũng như các quốc gia tiếp nhận (receiving countries)’. Từ điển pháp lý Black’s Law định nghĩa con nuôi quốc tế là trường hợp nhận con nuôi có quốc tịch nước ngoài, thủ tục căn cứ vào luật nơi đứa trẻ có quốc tich!