phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm có 3 chương. Văn hóa dân gian – vấn đề lí luận và thực tiễn. Chúng tôi sẽ làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa dân gian và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết, cũng như tình yêu quê hương và quan niệm tiểu thuyết của Mạc Ngôn 13 Chương 2. Văn hóa dân gian với thế giới nhân vật và ngôn ngữ trong Đàn hương hình.
Chương này chúng tôi phân tích ảnh hưởng của Miêu Xoang đối với thế giới nhân vật và ngôn ngữ Miêu Xoang trong tác phẩm. Văn hóa dân gian với thế giới nghệ thuật Đàn hương hình. Chúng tôi làm rõ Miêu Xoang với không gian nghệ thuật, Miêu Xoang với kết cấu tác phẩm và nghệ thuật hành hình. VĂN HÓA DÂN GIAN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm văn hóa dân gian Trong một vài thập kỉ gần đây, văn hóa đã trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, văn hóa gắn bó khăng khít với sự phát triển của lịch sử xã hội của từng quốc gia, từng dân tộc. Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, lòng nhân ái, khoan dung và xây dựng lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng xã hội. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người hoàn thiện nhân cách, mỗi người sẽ kế thừa, chọn lọc những tinh hoa văn hóa dân gian dung hòa với văn hóa đương đại. Thế nhưng để có khái niệm cụ thể về văn hóa và văn hóa dân gian là việc làm không hề dễ.
Vì vậy chúng tôi sẽ hệ thống lại những định nghĩa về văn hóa và văn hóa dân gian nhằm làm rõ nội hàm khái niệm. Có thể nói văn hóa là cái liên quan gắn bó với mọi người, mọi cộng đồng quốc gia, mọi dân tộc, nhưng vấn đề này có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Sau khi liên Hiệp Quốc phát động phong trào “Thập kỉ quốc tế phát triển văn hóa” (1987 – 1997) được toàn thế giới hưởng ứng, những vấn đề về văn hóa lại càng được nghiên cứu tìm hiểu một cách sâu rộng hơn. Người ta đã thấy rằng văn hóa là người bạn đồng hành của toàn nhân loại và giờ đây văn hóa đã trở thành nền tảng, động lực, mục tiêu phát triển an toàn của mọi quốc gia dân tộc trên toàn thế giới.
Nguồn gốc của chữ “văn hóa” có từ thời Tây Hán và tác giả Lưu Hướng (năm 77 – 6 trước công nguyên) cho rằng: “việc trị thiên hạ của thánh nhân, trước là văn đức, sau là vũ lực. Phàm dùng vũ lực, lại không phục, văn hóa không thay đổi, thì sau đó xử chém” [63,tr. Ý nghĩa của từ “văn hóa” thời 15 cổ đại là chỉ văn trị giáo hóa, tức là điều chỉnh và cảm hóa luân lý, đạo đức, hình thành chế độ điển chương, lễ nhạc đối với con người. Sự giải thích về từ văn hóa như vậy kéo dài đến thời cận đại.
Tuy nhiên, ngày nay nghĩa của từ văn hóa mà chúng ta thường dùng, đương nhiên khác với thời cổ đại. Nó được du nhập từ phương Tây, dịch lại thông qua tiếng Tiếng Anh, tiếng Pháp, từ này đều viết là “culture”, tiếng Đức viết là “kulture”, chúng đều bắt nguồn từ tiếng Latinh“cultura”. Tiếng Latinh “cultura” vốn có nghĩa là canh tác, nghĩa mở rộng sau này là cư trú, luyện tập, lưu tâm hoặc chú ý, kính thần, v. hiện nay các loại ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức còn giữ một số hàm nghĩa đó của tiếng Latinh.
Văn hóa là một từ Việt gốc Hán, theo những cứ liệu xa xưa nhất của Trung Quốc thì văn có nghĩa là đẹp (cái đẹp, vẻ đẹp) và hóa có nghĩa là làm thay đổi, làm cho trở nên đẹp, tốt, hoàn thiện. Theo chúng tôi văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã hội loài người, sự tồn tại và phát triển lâu dài cùng với lịch sử là một phạm trù lịch sử xã hội, là hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người. Nó là sản phẩm vật chất và tinh thần được tạo bởi hoạt động thực tiễn của con người. Văn hóa là một tiêu chí quan trọng của sự phát triển lịch sử loài người.
Văn hóa dân gian là cội nguồn của mọi nền văn hóa trên thế giới là cơ sở rất quan trọng của văn hóa dân tộc, chi phối đời sống con người mọi phương diện. Do vậy không thể hiểu được bản sắc của một dân tộc nếu như không hiểu văn hóa dân gian của dân tộc đó. Thuật ngữ "dân gian" có thể hiểu như sau: Chữ gian có ba nghĩa khác nhau, chữ gian thứ nhất là dối trá (trong gian tà), chữ gian thứ 2 là vất vả (trong chữ gian nan), còn chữ gian thứ 3 trong dân gian nghĩa là cái khoảng, cái khu rộng lớn, cái vùng. Không gian là một hay tất cả khoảng trời đất bao 16 la.
Trung gian là cái khoảng chính giữa, và dân gian là trong khu vực trong địa hạt của dân. Văn hóa dân gian được thể hiện ở mọi lĩnh vực, mọi không gian mọi thời điểm. Có cuộc sống, có người dân, thì ở đó có văn hóa dân gian. Tìm hiểu văn hóa dân gian là tiếp cận với cuộc sống của dân tộc đó đi sâu vào cuộc sống của dân tộc đó, hiểu thế giới xã hội quanh và hiểu được chính ta.
Để chỉ hiện tượng mà tiếng Việt gọi là văn hóa dân gian thì hiện nay trên thế giới và cả Việt Nam thường dùng thuật ngữ folklore (flok: dân chúng, nhân dân, lore: tri thức, trí khôn). Thuật ngữ này lần đầu tiên được nhà khoa học người Anh là Willam J.Thoms sử dụng trong một bài báo đăng trên tạp chí “The Athenneum” xuất bản ở Luân Đôn năm 1846. Ông là người đã đặt cột mốc đầu tiên cho việc xác định một đối tượng và con đường hình thành khoa học về đối tượng đó. Hơn một thế kỉ trôi qua, các nhà nghiên cứu, các trường phái khoa học ở nhiều nước vẫn chưa có quan niệm thống nhất về folklore và có rất nhiều tranh luận về vấn đề này.
Thuật ngữ folklore ít dùng ở Việt Nam, nhưng lại phổ biến ở nhiều nước. Khi nhà nhân chủng học người Anh Willam J.Thoms đưa ra lần đầu tiên năm (1846) thì thuật ngữ này có nội dung rộng; đôi khi chỉ cả những di tích của nền văn hóa vật chất, nhưng chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân như: phong tục, đạo đức, việc cúng tế, ca dao, truyện cổ tích, cách ngôn,. của các thời trước. Qua việc tổng kết lại các công trình trên, theo chúng tôi văn hóa dân gian (folklore) có trong mọi lĩnh vực đời sống và vẫn diễn ra sống động, có thể thâu nhận và tiêu hóa những yếu tố mới, trên đường đi của nó.
Ở đây chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Đàn hương hình ở làn điệu dân gian Miêu Xoang cùng văn hóa tàn khốc được nâng lên thành 17 nghệ thuật chém người. Đó chính là nghiên cứu sự tác động ảnh hưởng của văn hóa dân gian đến đời sống xã hội trong quá khứ cũng như đương thời. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết Văn học nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, tín ngưỡng, phong tục, tập quán,. là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa.
Nếu văn hóa thể hiện những quan niệm, ứng xử của con người trong cuộc sống thì văn học sẽ là nơi lưu giữ những ứng xử, những quan niệm, những phong tục của cuộc sống rất sinh động. Văn hóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài, mà còn biểu hiện ở toàn bộ các hoạt động sáng tạo của nhà văn và cũng như sự tiếp nhận của người đọc. Văn học là sự tự ý thức văn hóa. Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa mà còn chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa, là một trong những phương tiện bảo tồn văn hóa.
Quan hệ giữa văn hóa và văn học không chỉ là mối quan hệ một chiều. Văn học chịu sự ảnh hưởng và chi phối của văn hóa, mối quan hệ này là mối quan hệ tương hỗ, mối quan hệ của hai hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng. Vì vậy khi nghiên cứu văn học, người ta có thể lấy tư liệu từ văn hóa và ngược lại. Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận.
Sự sáng tạo của nhà văn luôn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố trong đó có văn hóa. Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hóa lớn. Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ có thể cổ vũ hoặc phê phán những biểu hiện phản văn hóa, đồng thời họ có thể khẳng định hoặc ca ngợi những giá trị văn hóa dân tộc, của nhân dân khai phóng. Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hóa tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hóa, giới sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hóa dân tộc.
18 Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ nên việc tìm hiểu văn học dưới góc độ văn hóa là một hướng đi rất cần thiết và triển vọng. Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học. thì cách tiếp cận văn học bằng văn hóa học sẽ giúp chúng ta lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa được bao hàm bên trong nó. Những yếu tố văn hóa liên quan đến thiên nhiên, lịch sử, địa lí, văn hóa, xã hội, pháp luật, tôn giáo, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ.
Có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. Theo Chu Lập Nguyên “Văn học là một phần của văn hóa, biết sử dụng cái nhìn văn hóa thích hợp thì sẽ hiểu văn học sâu hơn, cũng có thể mở rộng phương diện nghiên cứu” [21, tr 51]. Phương pháp nghiên cứu liên ngành cũng có ý nghĩa đối với lí luận văn học, lúc này lí luận văn học sẽ là bộ môn mở, bao dung nhiều thành phần. Nó sẽ coi trọng diễn ngôn, văn bản, phương diện truyền bá, văn học đại chúng.
Việc chuyển hướng nghiên cứu văn hóa trong văn học đang mở ra những hướng nghiên cứu mới trong tầm nhìn văn hóa.