Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE TRANH TUNG TẠI PHIEN TOA DAN SỰ SƠ THÂM 1. Khai niệm, đặc điểm của tranh tung trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm tranh tụng trong tô tụng dân sự Tranh tụng không phải là thuật ngữ hoàn toàn mới lạ, xuất hiện trong các nhà nước hiện đại là thuật ngữ xuất hiện từ kỳ Hy Lạp cổ đại, ở đó nguyên cáo (nguyên don) va bi cáo đã được nhờ người thân của mình bao chữa trước tòa án!. Nói đến tranh tụng là nói đến thủ tục hỏi đáp liên tục; nói đến tranh tụng là nói đến khái niệm quen thuộc ở các nước theo hệ thống luật án lệ (case law còn được gọi là commmon law ) và hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (civil law/continental law).
Ngày nay, cho dù ở hệ thống pháp luật nào đi chăng nữa: hệ thống luật án lệ (case law), hệ thống luật châu âu lục dia (continental law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì ít hay nhiều, bằng cách thể hiện khác nhau đều có yếu tố tranh tụng. Hoạt động tranh tụng, đặc biệt tranh tụng tại phiên xét xử có hiệu quả sẽ giúp cho Tòa án trong việc nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án, góp phan giải quyết đúng dan vụ việc, đảm bảo sự công bang va bảo vệ các quyền va lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tô tụng. Ở nước ta, “ranh tung” là không còn là một van đề quá mới mẻ. Những năm gần đây đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về tranh tụng ở nhiều công trình khoa học, ở nhiều cấp độ với rất nhiều luận điểm đa dạng khác nhau.
Thuật ngữ “tranh tụng” lần đầu tiên được đề cập một cách chính thức trong Nghị quyết số 08/- NQ/TW ngày 02 tháng 1 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Theo từ điển Dai từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hoá- thông tin, Hà Nội (1998) thì tranh tụng có nghĩa là “cdi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải” còn theo từ điển tiếng Việt của học giả Hoàng Phê, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tung”. Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì tranh 1 Nguyễn Ngọc Ánh (2019), Tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm theo Bộ luật tổ tụng dan sự năm 2015, Luận văn thạc sỹ luật hoc, Khoa Luật DHQGHN, tr 7. tung là toàn bộ quá trình mà ở đó các bên tham gia tố tụng đưa ra các quan điểm của mình dé tranh luận, bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của đương sự phía bên kia.
Trên cơ sở kết quả tranh tụng, Tòa án đưa ra phán quyết cuối cùng nhằm đảm bảo tính khách quan và đúng đắn của vụ án. và mặt lý luận, hiện nay có một số quan điểm khác nhau về tranh tụng trong TTDS. Học giả Trịnh Văn Chung trong luận văn thạc sỹ luật học của mình cho rang: “Tranh tụng trong TTDS là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án. Tranh tụng diễn ra trong quá trình tô tụng, theo đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của minh cũng như phan bác yêu cau của bên đối lập trước Tòa án và kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ dé giải quyết vụ án”.
Trong khi đó, hoc giả Đoàn Thị Xuân Sơn thì có quan điểm: “Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự đưa ra, trao đổi về chứng cứ, ly lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận đổi lập, tranh luận với nhau dựa trên những thủ tục do pháp luật quy định nham bảo vệ quyên lợi hợp pháp cua mình trước sự giảm sát của Toa an. Sự tranh tụng được chứa đựng trong chính hành vì khởi kiện”. Khác so với 02 học giả nên trên, học giả Nguyễn Thị Thu Hà trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của trường Đại học Luật Hà Nội “Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cau của cải cách tu pháp” năm 2010 lại có quan điểm bao quát hơn, tranh tụng là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tranh tụng phải được diễn ra một cách liên tục từ khi người khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyénn lợi hợp pháp của mình hoặc của người khác cho đến khi tòa án ra quyết định giải quyết VADS; các bên chủ thé thực hiện việc tranh tụng dưới sự điều khiển của Tòa án; được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý dé chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định.
Tòa án ra phán quyết về việc giải quyết vụ án căn cứ vào kết quả tranh tụng của các chủ thê tranh tụng. Qua nghiên cứu, tác giả đề án cho rằng, khái niệm về tranh tụng trong TTDS được hiểu như quan điểm của học giả Trịnh Văn Chung là chưa thực sự đầy đủ, chưa phản ánh đúng nội hàm của tranh tụng bởi lẽ quan điểm này mới chỉ coi tranh tụng là phương pháp giải quyết tranh chấp tại Tòa án; việc các bên đương sự xuất trình, trao đối tài liệu, bang chứng, lập luận, căn cứ pháp lý dé chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp chưa nói lên được bản chất, ý nghĩa của tranh tụng. Cần phải hiểu tranh tụng là cả một quá trình nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Ở quan điểm thứ hai, mặc dù học giả Đoàn Thị Xuân Sơn phần nào đã trình bày được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của khái niệm lại khá hẹp.
Mặc dù ở quan điểm này, học giả đã chỉ ra được bản chất của tranh tụng nhưng lại chưa chỉ ra được giới hạn của quá trình tranh tụng, nó được bắt đầu và kết thúc ở thời điểm nao trong quá trình giải quyết vụ án. Trên thực tế thì tranh tụng trong TTDS có nội hàm rất rộng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giải quyết vụ án. Bởi lẽ, TTDS là toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sự cho nên tranh tụng trong TTDS là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có thời điểm bắt đầu cũng như thời điểm kết thúc. Tác giả cho rằng trong số 03 quan điểm về tranh tụng nêu trên thì quan điểm của học giả Nguyễn Thị Thu Hà là bao quát và toàn diện hơn hơn cả, học giả Nguyễn Thị Thu Hà đã chỉ rõ được bản chất của tranh tụng cũng như giới hạn của hoạt động tranh tụng.
Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự được đưa ra, trao đôi các tài liệu, chứng cứ, các căn cứ pháp lý; có quyên lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác dưới sự giám sát của Tòa án. Thông qua quá trình tranh tụng tại các giai đoàn khác nhau của vụ án, nhất là tại phiêm toà, các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Toà án sẽ căn cứ vào sự thật khách quan của vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng dé đưa ra phán quyết cuối cùng. Trên cơ sở các phân tích nêu trên, tác giả của đề án mạnh dạn đưa ra khái niệm về tranh tụng trong TTDS của mình như sau: Tranh tung trong TTDS là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Quá trình này phải được diễn ra một cách liên tục từ khi Toà án tiễn hành thụ lý vụ án dân sự cho đến khi tòa án ra phán quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án.
Trong suốt quá trình tranh tụng, các bên đương sự được đưa ra các lập luận, bằng chứng, căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cau của mình là có căn cứ và hợp pháp; có quyên phản bác các yêu cau của bên đối lập trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định. Tòa án sẽ ra phán quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án dân sự căn cứ vào kết quả tranh tụng của các bên tranh tụng. Đặc điểm tranh tụng trong tô tụng dân sự Trên cơ sở khái niệm tranh tụng mà tác giả vừa nêu ở trên, chúng ta có thể khái quát một số đặc điểm của tranh tụng trong TTDS như sau: - Bản chất của tranh tụng trong TTDS là việc các chủ thể tranh tụng có quyên dua ra các tài liệu, bằng chứng, căn cứ pháp lý dé lập luận, đối đáp, chứng minh, bảo vệ quyên và lợi ich hợp pháp cho minh hoặc cho người khác trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định - Các bên đương sự là chủ thể tranh tụng chủ yếu và là người giữ vai trò chủ động, có yếu tố quyết định đến kết quả tranh tụng. Thông thường, trong quá trình giải quyết VADS, đương sự là chủ thé tranh tụng chính (trong VADS đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
Trong một sỐ trường hợp, chủ thé tranh tụng cũng có thé là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc tranh tụng với những người tham gia tố tụng khác. Trong số những người tham gia tố tụng thì đương sự bao giờ cũng là chủ thé quan trọng nhất, có tính quyết định đến hoạt động của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác. Bởi lẽ nếu không có người khởi kiện, yêu cầu thì Toà án không có căn cứ, cơ sở dé thụ lý vụ án, Toà án cũng chỉ được giải quyết trong phạm vi khởi kiện, yêu cầu của người khởi kiện. Bên cạnh đó, Tòa án chỉ có thé năm bắt và giải quyết được vụ án thông qua những chứng cứ, lập luận do đương sự cung cấp.
Hon ai hết, đương sự là người nắm bat, hiểu rõ bản chất của quan hệ pháp luật tranh chấp nên có thé chủ động thu thập, cung cấp, giao nộp cho Toà án các chứng cứ cũng như đề nghị Toà án hỗ trợ việc thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định. 10 Giải quyết tranh chấp, yêu cầu tại Tòa án là một trong các cơ chế do pháp luật quy định dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thé. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự trước hết phụ thuộc vào khả năng tham gia TTDS của đương sự.