Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Nam thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Bá Diến. Luận án thuộc chuyên ngành Luật quốc tế, mã số 62 38 01 08.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp cận công lý là yêu cầu trọng tâm của hoạt động xét xử.

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Chương XXXV (từ Điều 410 đến Điều 413). Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nảy sinh nhiều hạn chế:

  • Tồn tại các quy định đa nghĩa dẫn đến cách hiểu và áp dụng thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án; kỹ thuật lập pháp chưa theo kịp thực tiễn; một số quy định được ghi nhận trong luật chuyên ngành nhưng chưa được BLTTDS đồng bộ hóa.
  • Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng Chương XXXV BLTTDS; Hội đồng Thẩm phán TANDTC chưa có Nghị quyết hướng dẫn riêng biệt về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Việt Nam đã ký kết 19 Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP), thỏa thuận tương trợ tư pháp và 01 Nghị định thư bổ sung, nhưng các điều khoản phân định thẩm quyền còn mang tính khái quát, sơ lược, hoặc quy định thẩm quyền song song dẫn đến xung đột thẩm quyền xét xử.
  • Sự gia tăng nhanh chóng của các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động quốc tế làm phát sinh số lượng lớn các tranh chấp và yêu cầu cần cơ chế tài phán giải quyết rõ ràng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án gồm:

  1. Góp phần nâng cao tri thức lý luận chuyên sâu về thẩm quyền của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự trong tư pháp quốc tế (TPQT) Việt Nam.
  2. Làm sáng tỏ thành tựu, sự tiến bộ cũng như chỉ ra những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong hệ thống TPQT Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm:

  1. Nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định của Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong mối quan hệ so sánh với pháp luật quốc tế và một số quốc gia.
  2. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ pháp lý, chuẩn mực lý luận và quy định pháp luật thực định điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào việc phân định thẩm quyền quốc tế giữa Tòa án Việt Nam và Tòa án nước ngoài (thẩm quyền xét xử quốc tế); không đi sâu vào phân định thẩm quyền nội bộ theo cấp xét xử, loại việc hay lãnh thổ trong nước; không nghiên cứu chuyên sâu về quy trình trọng tài thương mại mà chỉ xem xét mối quan hệ giữa thẩm quyền Tòa án và thẩm quyền Trọng tài khi có yếu tố nước ngoài. Về quan hệ nội dung, nghiên cứu bao quát các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động với hơn 40 nhóm quan hệ cụ thể).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo cứu tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật và hệ thống hóa nguồn tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài.

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Giáo trình đại học: Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội (Bùi Xuân Nhự chủ biên các năm 1999, 2001, 2009, 2011; Bùi Thị Thu chủ biên năm 2010); Giáo trình Tư pháp quốc tế phần chung và phần riêng của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Mai Hồng Quỳ chủ biên năm 2013); Giáo trình Tư pháp quốc tế của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Bá Diến chủ biên năm 2013); Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (ĐH Luật Hà Nội); Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế (Khoa Luật - ĐHQGHN). Các giáo trình này tập trung vào khái niệm, nguyên tắc chung về tố tụng dân sự quốc tế và xung đột thẩm quyền nhưng chưa đi sâu vào các khía cạnh thực tiễn thi hành.
  • Sách chuyên khảo, tham khảo: Đoàn Năng (2001) với Những vấn đề lý luận cơ bản về tư pháp quốc tế; Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ (2006, 2010) với Tư pháp quốc tế của Việt Nam; Lê Thị Nam Giang (2007) với Tư pháp quốc tế; Nguyễn Vũ Hoàng (2004) về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng Tòa án; Nguyễn Trung Tín (2009) về tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài; Nguyễn Văn Tiến và Bành Quốc Tuấn (2011) với Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài và việc bảo vệ quyền dân sự tại cơ quan tư pháp Việt Nam.
  • Luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hà (2003) nghiên cứu về phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án ở Việt Nam (tiếp cận theo góc độ tố tụng quốc nội); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Vinh (2002), Phan Thị Hương Thủy (2002) về tranh chấp kinh tế; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Năm (2007), Đào Thị Thúy (2010), Đồng Thị Kim Thoa (2004 - so sánh pháp luật Việt Nam và Thụy Điển), Nguyễn Thị Hoa (2009), Hoàng Tố Nguyên (2013), Nguyễn Cao Hiến (2011).
  • Bài báo khoa học: Các công trình công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí TAND, Tạp chí Khoa học Pháp lý của các tác giả Bành Quốc Tuấn (2009), Nguyễn Ngọc Khánh (2003), Đồng Thị Kim Thoa (2006, 2012), Nguyễn Trung Tín (2004), Đỗ Văn Đại và Trần Việt Dũng (2012), Trần Hoàng Hải và Đỗ Văn Đại (2010), Nguyễn Bá Bình (2008), Phan Hoài Nam (2012), Nguyễn Thị Kim Phụng (2001), Lê Mai Thanh (2002), Nguyễn Công Khanh (1999, 2000).

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Các tác phẩm kinh điển về xung đột pháp luật và thẩm quyền tài phán quốc tế: Adrian Briggs (2002), J. Collier (1994, 2001), Peter Stone (1995, 2010), Eckart Gottschalk (2007), Richard Fentiman (2010), Faye Fangfei Wang (2010), CMV. Clarkson & Jonathan Hill (2002), Eugene F. Scoles, Peter Hay, Patrick J. Symeonides (2000), Hans van Houte (2002), Huanfang DU (2009), Michael Akehurst (1999), David McClean (1993).
  • Chuyên khảo về pháp luật quốc gia dịch sang tiếng Việt: Tác phẩm Tư pháp quốc tế của Jean Derruppe (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005) trình bày hệ thống TPQT Pháp, phân định thẩm quyền chung dựa trên quốc tịch đương sự và sự phát triển của án lệ mở rộng thẩm quyền theo nơi cư trú của bị đơn. Cuốn Droit du commerce international của J-M. Corneloup (2015) phân tích các tiêu chí xác định thẩm quyền của Tòa án Pháp theo Điều 14, Điều 15 BLDS Pháp và Điều 42 BLTTDS Pháp. Tài liệu Fasc.60 về Tư pháp quốc tế Trung Quốc của Banggui Jin (2012) phân tích thẩm quyền chung, thẩm quyền riêng biệt và thẩm quyền theo thỏa thuận (Điều 242 BLTTDS Trung Quốc).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Qua điểm luận, tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học:

  1. Các công trình nước ngoài không trực tiếp phân tích hệ thống tư pháp và thực tiễn xét xử của Tòa án Việt Nam.
  2. Các công trình trong nước trước đó nghiên cứu tản mạn, chủ yếu tiếp cận tố tụng quốc nội (phân cấp thẩm quyền sơ thẩm, phúc thẩm) hoặc giới hạn trong từng nhóm quan hệ riêng lẻ (hôn nhân gia đình hoặc hợp đồng thương mại), chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu về thẩm quyền tài phán quốc tế của Tòa án Việt Nam.
  3. Thiếu vắng các phân tích thực tiễn xét xử cụ thể từ hồ sơ án thực tế của ngành Tòa án nhằm chỉ ra các vướng mắc trong việc giải thích và áp dụng BLTTDS 2004 (sửa đổi 2011).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng hệ thống lý luận của khoa học Tư pháp quốc tế và Luật tố tụng dân sự:

  • Lý thuyết về quyền tài phán quốc gia và chủ quyền tư pháp: Thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia bắt nguồn từ quyền lực nhà nước, được giới hạn và điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế song phương/đa phương và nguyên tắc có đi có lại.
  • Khung phân định thẩm quyền xét xử quốc tế: Phân chia thẩm quyền thành thẩm quyền chung (Tòa án có thể thụ lý nhưng không loại trừ Tòa án nước khác), thẩm quyền riêng biệt/độc quyền (quốc gia bảo lưu tuyệt đối quyền xét xử, từ chối công nhận bản án nước ngoài vi phạm thẩm quyền riêng biệt), và thẩm quyền theo thỏa thuận của đương sự.
  • Lý thuyết về xung đột thẩm quyền (Conflict of Jurisdictions): Phân tích hiện tượng thẩm quyền song song (nhiều Tòa án cùng thụ lý một vụ việc), cơ chế giải quyết xung đột qua hiệp định tương trợ tư pháp, quy tắc Tòa án thụ lý trước (lis alibi pendens) và nguyên tắc forum non conveniens.
  • Mối quan hệ giữa quyền tài phán Tòa án và Trọng tài: Xác lập giới hạn can thiệp, hỗ trợ và kiểm soát của Tòa án đối với trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010 và Công ước New York 1958.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp lý: Mổ xẻ cấu trúc ngữ nghĩa, nội dung các điều luật của BLTTDS, BLDS, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Doanh nghiệp, Luật Trọng tài thương mại và các HĐTTTP.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh cơ chế xác định thẩm quyền của Việt Nam với pháp luật của Pháp (tiêu chí quốc tịch, nơi cư trú), Trung Quốc (thẩm quyền thỏa thuận theo Điều 242 BLTTDS), Thụy Điển, Đức, Brazil và các chuẩn mực của Hội nghị La Haye về TPQT, Liên minh Châu Âu (Quy chế Brussels).
  • Phương pháp hệ thống hóa và tổng hợp: Khái quát hóa tiến trình lập pháp qua các thời kỳ lịch sử và tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật để xây dựng hệ thống kiến nghị lập pháp.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống án lệ/thực tiễn (Case study): Trích xuất, phân tích các bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm có thật của hệ thống Tòa án nhân dân để chứng minh cho các luận điểm lý luận.

Nguồn tư liệu và dữ liệu thực chứng

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2016.
  • 19 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các nước; Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; các tài liệu của Hội nghị La Haye về TPQT (Việt Nam gia nhập năm 2013).
  • Dữ liệu thực tiễn xét xử gồm các bản án, quyết định thực tế của TAND các tỉnh/thành phố (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Khánh Hòa, Nghệ An...) và các Tòa Phúc thẩm, Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Chương 1 điểm luận toàn diện tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế chủ yếu giải quyết bài toán xung đột thẩm quyền theo hệ thống thông luật (Common Law) hoặc dân luật (Civil Law) Tây Âu, không phản ánh cấu trúc tư pháp của Việt Nam.

Các nghiên cứu trong nước trước năm 2016 thường phân tích thẩm quyền nội bộ hoặc chỉ đề cập gián tiếp trong các giáo trình, bài báo ngắn. Luận án khẳng định sự cần thiết phải có một công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống từ lịch sử, lý luận, thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng đến định hướng sửa đổi BLTTDS trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Chương này xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích các cơ chế lý luận cốt lõi:

  1. Khái niệm Vụ việc dân sự và Vụ án dân sự:

    • Căn cứ Điều 1 BLTTDS 2004, vụ việc dân sự gồm vụ án dân sự (có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các bên) và việc dân sự (không có tranh chấp, đương sự yêu cầu công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý theo Điều 311).
    • Tác giả lập luận: Tranh chấp chỉ trở thành vụ án dân sự khi Tòa án đã chính thức thụ lý sau khi xem xét tính hợp thức của đơn khởi kiện, chứng cứ kèm theo và đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí (theo Điều 164, 168, 171 BLTTDS). Tương tự, việc dân sự chỉ phát sinh khi Tòa án vào sổ thụ lý đơn yêu cầu và đương sự hoàn thành tạm ứng lệ phí.
  2. Dấu hiệu xác định Yếu tố nước ngoài (YTNN): Căn cứ Điều 758 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 405 BLTTDS 2004, YTNN trong vụ việc dân sự được xác lập qua ba nhóm dấu hiệu:

    • Về chủ thể: Có ít nhất một bên là cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoặc các bên đều là người nước ngoài. Việc cá nhân nước ngoài ủy quyền cho người Việt Nam tham gia tố tụng không làm mất đi YTNN của vụ án.
    • Về sự kiện pháp lý: Căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài.
    • Về khách thể/tài sản: Tài sản hoặc đối tượng liên quan đến quan hệ dân sự tồn tại ở nước ngoài.
  3. Khái niệm Thẩm quyền của Tòa án: Tác giả phân biệt giữa "thẩm quyền" (phạm vi các quyền được làm) và "quyền hạn" (giới hạn thực hiện quyền trong từng lĩnh vực). Từ đó đưa ra định nghĩa: Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các quyền mà Tòa án Việt Nam được giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và ra quyết định đối với các vấn đề pháp lý của vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự do pháp luật Việt Nam quy định.

  4. Xung đột thẩm quyền và Phân loại thẩm quyền:

    • Thẩm quyền chung: Nhiều quốc gia có thể cùng xác lập quyền tài phán dẫn đến thẩm quyền song song.
    • Thẩm quyền riêng biệt (Exclusive Jurisdiction): Thẩm quyền độc quyền do quốc gia bảo lưu (ví dụ tranh chấp bất động sản trên lãnh thổ). Bản án của Tòa án nước ngoài vi phạm thẩm quyền riêng biệt của Việt Nam sẽ bị từ chối công nhận và cho thi hành.
  5. Mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài thương mại:

    • Tòa án từ chối thụ lý hoặc phải đình chỉ giải quyết vụ án khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp lệ, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được (Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP).
    • Tòa án giữ vai trò hỗ trợ hoạt động trọng tài (chỉ định/thay đổi trọng tài viên, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thu thập chứng cứ) và giám sát tư pháp (hủy phán quyết trọng tài nội địa, xem xét công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài).
Trường hợp thực tiễn được trích dẫn trong Chương 2 Tòa án thụ lý / Cấp xét xử Tình tiết và Vấn đề pháp lý giải quyết
Tranh chấp quyền sử dụng đất (Ông Trịnh Quang Tá v. Ông Trịnh Quang Sửu) - TAND TP. Đà Nẵng (Bản án DSST số 10/2012/DSST ngày 27/9/2012)
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng (Bản án DSPT số 05/2012/DSPT ngày 30/11/2012)
Nguyên đơn và người có quyền lợi liên quan định cư tại Hoa Kỳ. Xác định tư cách đương sự cư trú ở nước ngoài cấu thành yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể.
Tranh chấp hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất (Bà Lê Thị Mướt v. Ông Chang Shin Tsai) - TAND tỉnh Bình Dương (Bản án DSST số 11/2013/DSST ngày 18/09/2013)
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM (Bản án DSPT số 69/2014/DSPT ngày 31/3/2014)
Bị đơn người nước ngoài ủy quyền cho cá nhân Việt Nam tham gia tố tụng. Phán quyết khẳng định việc ủy quyền không làm mất đi yếu tố nước ngoài của vụ án.
Tranh chấp hợp đồng mua bán thùng carton xuất khẩu (Cty TNHH Sản xuất Thái Phong v. Cty Cổ phần Giấy Minh Phú) - TAND tỉnh Bình Dương (Bản án KDTM-ST số 12/2010/KDTM-ST ngày 07/7/2010)
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM (Bản án KDTM-PT số 34/2014/KDTM-PT ngày 13/6/2014)
- Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Quyết định GĐT số 16/2014/KDTM-GĐT ngày 27/7/2015)
Hàng hóa bị hư hại dẫn đến việc bồi thường 248.000 USD cho công ty tại Đài Loan. Xác định yếu tố nước ngoài dựa trên sự kiện pháp lý phát sinh thiệt hại và tài sản ở nước ngoài.
Vụ án ly hôn và quyền nuôi con (Bà Lý Thị Kim Hương v. Ông Tony Lam) - TAND TP. Hồ Chí Minh (Bản án HNGĐ-ST số 714/2007/HNGĐ-ST ngày 07/5/2007) Xung đột thẩm quyền giữa án lệnh giám hộ của Tòa án gia đình Tiểu bang New York (Hoa Kỳ) và bản án xét xử của Tòa án Việt Nam khi chưa có hiệp định tương trợ tư pháp.
Tranh chấp hợp đồng vận chuyển và bảo hiểm (Bảo hiểm Bảo Việt v. Cty TNHH Vận tải biển và thương mại Việt Hàn) - TAND tỉnh Nghệ An (Quyết định đình chỉ số 02/2013/QĐST-KDTM ngày 26/8/2013)
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội (Quyết định phúc thẩm số 175/2014/QĐ-PT ngày 08/10/2014)
Các bên thỏa thuận trọng tài nước ngoài (Singapore). Tòa án sơ thẩm thụ lý sai phải ra quyết định đình chỉ giải quyết để chuyển giao cho Trọng tài theo đúng thẩm quyền.

Chương 3: Pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và thực tiễn áp dụng

Chương 3 tái hiện lịch sử phát triển lập pháp và đánh giá thực trạng thi hành:

  • Giai đoạn lịch sử: Phân kỳ pháp luật tố tụng từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, giai đoạn áp dụng các Thông tư hướng dẫn của TANDTC (như Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 về ly hôn có nhân tố nước ngoài), giai đoạn các Pháp lệnh tố tụng đầu thập niên 1990, cho đến khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và sửa đổi năm 2011.
  • Thực trạng quy định hiện hành: Đánh giá Chương XXXV BLTTDS 2004 (Điều 410 về nguyên tắc xác định thẩm quyền; Điều 411 về thẩm quyền chung; Điều 412 về thẩm quyền riêng biệt; Điều 413 về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài).
  • Bất cập thực tiễn: Chỉ rõ sự thiếu vắng các tiêu chí định lượng về mối liên hệ gắn bó giữa vụ việc với Tòa án Việt Nam; vướng mắc trong việc ủy thác tư pháp tống đạt giấy tờ ra nước ngoài làm kéo dài thời hạn giải quyết án; sự xung đột giữa thẩm quyền Tòa án theo BLTTDS và thẩm quyền theo các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp lập pháp:

  • Yêu cầu và phương hướng: Thể chế hóa yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng; đảm bảo tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước La Haye, Công ước New York 1958); bảo vệ chủ quyền tư pháp quốc gia kết hợp tôn trọng quyền tự do định đoạt của đương sự.
  • Giải pháp lập pháp cụ thể:
    1. Sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTDS: Làm rõ định nghĩa "vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài", chuẩn hóa khái niệm "vụ án dân sự" và "việc dân sự"; quy định rõ thời điểm chính thức phát sinh vụ việc dân sự gắn với thủ tục thụ lý.
    2. Mở rộng và cụ thể hóa các căn cứ xác lập thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam: Bổ sung tiêu chí nơi cư trú, nơi đặt trụ sở của bị đơn, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nơi xảy ra hành vi vi phạm ngoài hợp đồng.
    3. Hoàn thiện chế định thẩm quyền riêng biệt: Rà soát lại phạm vi các vụ việc độc quyền xét xử (đặc biệt là tranh chấp bất động sản, thừa kế bất động sản, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đăng ký tại Việt Nam).
    4. Quy định chi tiết về hiệu lực của thỏa thuận chọn Tòa án nước ngoài và thỏa thuận trọng tài, phân định rõ thẩm quyền hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP.
    5. Đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết mới và nâng cấp các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương; tiến tới nghiên cứu xây dựng Luật Tư pháp quốc tế độc lập của Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thẩm quyền tài phán quốc tế của Tòa án trong hệ thống Tư pháp quốc tế Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
  • Phân biệt rành mạch về mặt khoa học pháp lý giữa khái niệm "thẩm quyền" và "quyền hạn" của Tòa án; chuẩn hóa mối quan hệ giữa "quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" và "vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài", chỉ ra rằng quan hệ dân sự chỉ chuyển hóa thành vụ việc dân sự khi có hành vi thụ lý chính thức của cơ quan tài phán.
  • Làm rõ cấu trúc phân định thẩm quyền quốc tế gồm thẩm quyền chung, thẩm quyền riêng biệt và thẩm quyền theo thỏa thuận, đặt trong mối tương quan với các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án (Trọng tài thương mại).

Đóng góp về mặt thực tiễn và hoàn thiện lập pháp

  • Luận chứng các căn cứ khoa học phục vụ trực tiếp cho hoạt động lập pháp, đặc biệt là quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự và tiến trình pháp điển hóa ngành Tư pháp quốc tế tại Việt Nam.
  • Tổng kết thực tiễn xét xử thông qua các bản án, quyết định thực tế của Tòa án các cấp, chỉ rõ sai sót trong việc thụ lý các vụ việc đã có thỏa thuận trọng tài hoặc vi phạm thẩm quyền riêng biệt của quốc gia khác.
  • Đưa ra các kiến nghị cụ thể để Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung giải quyết bài toán phân định thẩm quyền giữa Tòa án Việt Nam và Tòa án nước ngoài, không đi sâu vào việc phân bổ thẩm quyền theo lãnh thổ và cấp xét xử nội bộ trong nước. Do giới hạn dung lượng và độ rộng của hơn 40 nhóm quan hệ dân sự thực định, luận án chưa thể phân tích chi tiết tất cả các phân nhóm tranh chấp đặc thù. Mặt khác, nghiên cứu không khảo sát quy trình tố tụng nội bộ của Trọng tài mà chỉ giới hạn ở điểm giao thoa thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu sâu cơ chế công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; xây dựng khung lý thuyết và nội dung cụ thể cho một Đạo luật Tư pháp quốc tế chuyên biệt tại Việt Nam; nghiên cứu thẩm quyền tư pháp đối với các tranh chấp phát sinh trong không gian mạng và thương mại điện tử quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp trong việc soạn thảo, sửa đổi các quy định tố tụng dân sự quốc tế và đàm phán các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp.
  • Đối với Thẩm phán và cán bộ Tòa án: Cung cấp tài liệu nghiệp vụ tham khảo khi thụ lý, xem xét đơn khởi kiện có yếu tố nước ngoài, xử lý các tình huống có thỏa thuận trọng tài hoặc xung đột thẩm quyền với cơ quan tài phán nước ngoài.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên đề Tư pháp quốc tế và Luật Tố tụng dân sự tại các trường đại học, viện nghiên cứu pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt "quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" và "vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài" như thế nào?

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ nội dung phát sinh trong đời sống xã hội thỏa mãn các tiêu chí về chủ thể, sự kiện pháp lý hoặc tài sản. Quan hệ này chỉ trở thành vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài khi phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp hoặc yêu cầu pháp lý, đương sự nộp đơn hợp lệ, thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí/lệ phí và Tòa án có thẩm quyền chính thức thụ lý vào sổ thụ lý vụ án/việc dân sự theo thủ tục tố tụng.

2. Ba dấu hiệu cấu thành "yếu tố nước ngoài" trong vụ việc dân sự được xác định ra sao?

Căn cứ Điều 758 BLDS 2005 và Điều 405 BLTTDS 2004, ba dấu hiệu gồm: (1) Về chủ thể: Có ít nhất một bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các bên đều là người nước ngoài; (2) Về sự kiện pháp lý: Căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài; (3) Về tài sản: Tài sản liên quan đến quan hệ đó nằm ở nước ngoài.

3. Khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ nhưng một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án xử lý như thế nào?

Theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC: Nếu phát hiện tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ tại thời điểm nộp đơn, Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện. Nếu sau khi đã thụ lý vụ án mới phát hiện có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án căn cứ điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

4. Hậu quả pháp lý khi Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam là gì?

Căn cứ quy định tại Điều 356 và Điều 412 BLTTDS 2004, các vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam là các vụ việc mà Nhà nước Việt Nam bảo lưu quyền xét xử độc quyền. Mọi bản án, quyết định dân sự do Tòa án nước ngoài ban hành đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt này sẽ bị từ chối công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Nam là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về thẩm quyền xét xử quốc tế của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Bằng việc kết hợp giữa phân tích lý luận, so sánh luật học và tổng kết thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân từ năm 1945 đến năm 2016, tác giả đã làm sáng tỏ các tiêu chí xác định thẩm quyền, cơ chế xử lý xung đột thẩm quyền và mối quan hệ giữa Tòa án với Trọng tài. Công trình đóng góp hệ thống luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện Bộ luật Tố tụng dân sự, nâng cao chất lượng xét xử của ngành Tòa án và thúc đẩy tiến trình pháp điển hóa Tư pháp quốc tế Việt Nam.