Tổng quan luận án
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) Việt Nam được thành lập theo Nghị định 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ với tư cách là cơ quan chuyên môn giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do Ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp. Đây là một cơ quan mới được thành lập, chưa có tiền lệ tại Việt Nam về phương diện tổ chức lẫn cơ chế vận hành.
Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động (1994–2005), KTNN Việt Nam đã xây dựng được hệ thống bộ máy tập trung thống nhất gồm các bộ phận tham mưu giúp việc, 07 đơn vị KTNN chuyên ngành ở Trung ương và 05 đơn vị KTNN khu vực. Hoạt động kiểm toán đã thực hiện hàng nghìn cuộc kiểm toán, đưa ra các kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi và chuyển vào quản lý qua NSNN hơn 20 nghìn tỷ đồng; đồng thời chỉ ra các sơ hở, yếu kém trong quản lý tài chính, hỗ trợ các đơn vị khắc phục sai phạm, phòng ngừa gian lận, lãng phí và cung cấp dữ liệu phục vụ công tác phân bổ, quyết toán ngân sách của Quốc hội và Chính phủ.
Tuy nhiên, mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN trong giai đoạn này còn bộc lộ nhiều bất cập: sự phân công, phân cấp quản lý chưa đồng bộ; tổ chức đoàn kiểm toán và quy trình lập kế hoạch kiểm toán hàng năm còn hạn chế; chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận còn chồng chéo; tính độc lập theo chuẩn mực quốc tế chưa được bảo đảm trọn vẹn do vị trí pháp lý ban đầu trực thuộc cơ quan hành pháp.
Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI, Luật Kiểm toán Nhà nước đã được thông qua ngày 14/6/2005, Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 24/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006. Luật xác lập vị trí pháp lý của KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Bối cảnh pháp lý mới và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết một cách toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn đối với mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm các nội dung cụ thể sau:
- Nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan kiểm toán nhà nước.
- Khảo sát lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quốc tế về các mô hình cơ quan kiểm toán tối cao (KTTC) đại diện cho các xu hướng trên thế giới về địa vị pháp lý, cơ chế hoạt động và cách thức tổ chức kiểm toán nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Đánh giá tổng quát quá trình hình thành, phát triển, các kết quả đạt được cùng những tồn tại, hạn chế về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Việt Nam từ khi thành lập đến thời điểm ban hành Luật KTNN năm 2005.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Việt Nam trong điều kiện thi hành Luật KTNN và tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức (hình thức tổ chức và cơ cấu tổ chức bộ máy) và cơ chế hoạt động (các hình thức, nội dung trong quản lý kiểm toán và thực hiện kiểm toán) của cơ quan KTNN.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung đánh giá thực trạng mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Việt Nam từ năm 1994 đến thời điểm triển khai Luật KTNN năm 2005; phạm vi lý luận khảo sát các chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (INTOSAI), Tổ chức các Cơ quan Kiểm toán Tối cao Châu Á (ASOSAI) và mô hình KTTC tại một số quốc gia. Luận án không đi sâu vào các quy trình nghiệp vụ và phương pháp kỹ thuật chuyên môn chi tiết của từng loại hình kiểm toán.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hoạt động nghiên cứu khoa học của KTNN Việt Nam chính thức được triển khai từ năm 1995 và được Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường công nhận là đầu mối kế hoạch khoa học công nghệ từ năm 1996. Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học và dự án hợp tác quốc tế liên quan:
- Nhóm các dự án hợp tác quốc tế: Dự án hỗ trợ kỹ thuật từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) qua hai giai đoạn về xây dựng khuôn khổ pháp luật và tăng cường năng lực kiểm toán; các công trình phối hợp với Kiểm toán Nhà nước Liên bang Đức thông qua Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) xuất bản các tài liệu chuyên khảo như "Cơ sở pháp lý của Kiểm toán Nhà nước Liên bang Đức" (2001), "Những cơ sở của công tác kiểm tra tài chính Nhà nước" (1996), "Chức năng, nhiệm vụ và địa vị của cơ quan kiểm toán trong cơ cấu Nhà nước" (2003), "So sánh quốc tế địa vị pháp lý và các chức năng của cơ quan kiểm toán tối cao" (2003) và Kỷ yếu Hội thảo quốc tế GTZ/KTNN "So sánh địa vị pháp lý, nhiệm vụ và chức năng của cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới" (tháng 6/2004).
- Đề tài cấp Bộ: "Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan Kiểm toán Nhà nước" (Hà Nội, 1996) do PTS. Vương Hữu Nhơn làm chủ nhiệm. Đề tài đặt nền móng lý luận ban đầu khi KTNN mới thành lập, khảo sát kinh nghiệm của Trung Quốc nhưng mang tính định hướng xử lý vướng mắc tạm thời tại thời điểm KTNN trực thuộc Chính phủ.
- Đề tài cấp Bộ: "Cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xác định phạm vi hoạt động của KTNN và sự khác nhau giữa hoạt động KTNN với Thanh tra Nhà nước và Thanh tra tài chính" (Hà Nội, 2001) do TS. Nguyễn Đình Hữu làm chủ nhiệm. Đề tài tập trung phân định ranh giới giữa kiểm toán với thanh tra nhà nước và thanh tra tài chính nhằm loại bỏ sự chồng chéo chức năng.
- Đề tài cấp Bộ: "Thực trạng và giải pháp hoàn thiện phân công, phân cấp trong tổ chức quản lý và thực hiện hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước" (Hà Nội, 2002) do TS. Đinh Trọng Hanh làm chủ nhiệm. Công trình phân tích cơ chế phân công, phân cấp quản lý hành chính gắn với quản lý thực hiện kiểm toán trong nội bộ KTNN.
- Đề tài cấp Bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010" (Hà Nội, 9/2004) do Tổng KTNN Đỗ Bình Dương làm chủ nhiệm, GS.TS. Vương Đình Huệ và PGS.TS. Nguyễn Đình Hữu làm phó chủ nhiệm. Đề tài gắn vị trí của KTNN với công cuộc cải cách hành chính nhà nước, đưa ra định hướng phát triển đến năm 2010 trước khi Luật KTNN được thông qua.
- Đề tài cấp Bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kiểm toán trách nhiệm kinh tế trong nhiệm kỳ đối với cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước và các đơn vị kinh tế Nhà nước" (Hà Nội, 2004) do GS.TS. Vương Đình Huệ làm chủ nhiệm. Nghiên cứu kinh nghiệm kiểm toán trách nhiệm kinh tế của KTNN Trung Quốc nhằm ứng dụng tại Việt Nam.
- Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước: "Định hướng chiến lược và những giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống kiểm toán ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước" (Hà Nội, 2006) do GS.TS. Vương Đình Huệ làm chủ nhiệm. Công trình nghiên cứu tổng thể ba trụ cột của hệ thống kiểm toán Việt Nam gồm KTNN, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về từng khía cạnh riêng lẻ (như chiến lược phát triển, kiểm toán trách nhiệm kinh tế, phân định thẩm quyền với cơ quan thanh tra), nhưng chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cả về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Việt Nam trong bối cảnh đã ban hành Luật KTNN năm 2005 và Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống các khái niệm và cơ sở lý luận quản lý công và kiểm toán:
- Khung lý thuyết về chức năng quản lý xã hội của Nhà nước: Phân chia quá trình quản lý theo các giai đoạn tác động gồm: xác định quan điểm đường lối chiến lược; tổ chức bộ máy và xây dựng cơ chế vận hành; khai thác và sử dụng các nguồn lực; lựa chọn phương thức, phương pháp quản lý; vận hành xã hội; thực hiện chức năng giám sát (kiểm soát); và điều chỉnh đổi mới.
- Khái niệm về giám sát (Supervision) và các công cụ giám sát: Giám sát tài chính công được thực hiện qua hai công cụ chính là thanh tra (Inspection) – hoạt động xem xét, phát hiện và ngăn chặn các hành vi trái quy định khi có dấu hiệu không an toàn; và kiểm tra (Control) – hoạt động thường xuyên nhằm bảo đảm hoạt động diễn ra theo đúng quy chuẩn. Kiểm toán Nhà nước là phương thức giám sát chuyên môn cao nhất đối với tài sản công và tài chính công.
- Khái niệm và phân loại kiểm toán: Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có thẩm quyền tiến hành thu thập, đánh giá bằng chứng về các thông tin tài chính nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các chuẩn mực đã thiết lập. Luận án phân định ba loại hình kiểm toán cơ bản:
- Kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC): Kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán ngân sách.
- Kiểm toán tuân thủ: Đánh giá tình hình chấp hành luật pháp, quy chế và các quy định của cấp có thẩm quyền.
- Kiểm toán hoạt động (KTHĐ): Đánh giá tính kinh tế (Economy), tính hiệu quả (Efficiency) và tính hiệu lực (Effectiveness) trong quản lý, sử dụng các nguồn lực công.
- Các nhân tố tác động đến KTNN: Khung phân tích xem xét sự tương tác giữa KTNN với bốn nhóm nhân tố môi trường gồm môi trường xã hội, môi trường pháp luật, hệ thống các cơ quan nhà nước khác (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và các chủ thể là đối tượng chịu sự kiểm toán.
- Cơ sở pháp lý quốc tế: Tuyên bố Lima về các chỉ dẫn kiểm toán (được thông qua tại Đại hội lần thứ IX của INTOSAI tại Lima năm 1977) đóng vai trò là chuẩn mực khung về tính độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao (độc lập về tổ chức, độc lập về hoạt động kiểm toán, độc lập về nhân sự lãnh đạo và độc lập về ngân sách hoạt động).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để phân tích sự phát triển của thiết chế kiểm toán gắn liền với sự phát triển của bộ máy nhà nước và phương thức quản lý tài chính công.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Khái quát hoá lý luận, tổng hợp tài liệu, phân tích thể chế, tư duy logic, thống kê mô tả số liệu hoạt động kiểm toán và phương pháp so sánh đối chiếu hệ thống pháp luật, mô hình kiểm toán của các quốc gia trên thế giới.
- Nguồn tư liệu: Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Nghị định 70/CP, Nghị định 93/2003/NĐ-CP, Luật KTNN 2005); các báo cáo tổng kết thực tiễn hoạt động của KTNN Việt Nam; tài liệu và chuẩn mực của INTOSAI, ASOSAI; các văn kiện dự án hỗ trợ của ADB, GTZ và các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan KTNN
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về Nhà nước, tài chính công, sự hình thành các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới từ thời cổ đại đến hiện đại (như Phòng Thẩm kế tối cao Phổ thành lập năm 1714 dưới thời Vua Friedrich Wilhelm I, Tòa Thẩm kế Pháp thành lập năm 1807 dưới thời Hoàng đế Napoleon I; INTOSAI thành lập năm 1953 với 178 thành viên, ASOSAI thành lập năm 1978 với gần 35 thành viên). Chương này tập trung làm rõ ba mô hình tổ chức cơ quan KTTC theo địa vị pháp lý:
| Tiêu chí phân tích |
Mô hình KTNN trực thuộc cơ quan lập pháp |
Mô hình KTNN trực thuộc cơ quan hành pháp |
Mô hình KTNN độc lập với cả lập pháp và hành pháp |
| Quốc gia đại diện |
Hoa Kỳ (GAO), Vương quốc Anh, Nga, Đan Mạch, Úc, Hungary, Phần Lan, Ba Lan, Séc, Hà Lan |
Trung Quốc (CNAO), Nhật Bản, Thái Lan, Ả Rập Xê-út, Thụy Điển, Lào, Campuchia, Peru, Argentina |
CHLB Đức (KTNNLB Đức), Pháp (Tòa Thẩm kế), Malaysia, Philippines, Indonesia, Hy Lạp, Thụy Sĩ, Ý |
| Vị trí pháp lý |
Trực thuộc Quốc hội hoặc Nghị viện; phục vụ chức năng giám sát của nhánh lập pháp. |
Trực thuộc Chính phủ hoặc người đứng đầu nhánh hành pháp; ngang cấp Bộ. |
Độc lập với cả hai nhánh quyền lực; được quy định cụ thể trong Hiến pháp. |
| Ưu điểm chính |
Độc lập đối với cơ quan hành pháp; tăng tính minh bạch của việc sử dụng ngân sách; phục vụ trực tiếp việc phê chuẩn quyết toán. |
Chỉ đạo xử lý sai phạm nhanh chóng; tiếp cận số liệu quản lý của bộ máy hành chính thuận lợi; kiểm soát nội bộ hiệu quả. |
Tính độc lập và khách quan tối đa; kết luận và kiến nghị phục vụ đồng thời cho cả Quốc hội và Chính phủ. |
| Hạn chế chính |
Chủ yếu thực hiện hậu kiểm; chịu ảnh hưởng bởi cơ chế biểu quyết đa số của Nghị viện; độ trễ hành chính trong thực thi kiến nghị. |
Hạn chế tính khách quan khi tự kiểm tra cơ quan cùng nhánh hành pháp; khó phân định giữa thanh tra nội bộ và ngoại kiểm. |
Đòi hỏi hành lang pháp lý toàn diện và trình độ KTV rất cao để bảo đảm sức nặng của quyền kiến nghị. |
Bên cạnh phân loại theo địa vị pháp lý, chương 1 phân tích mô hình tổ chức theo hình thức nhà nước (mô hình KTNN tại nhà nước liên bang với các cơ quan kiểm toán bang độc lập với cơ quan kiểm toán liên bang; mô hình KTNN tại nhà nước đơn nhất theo phân cấp ngân sách hoặc mô hình tập trung thống nhất như BAI Hàn Quốc).
Về cơ chế hoạt động, chương này phân định rõ hai nhóm nội dung:
- Cơ chế quản lý kiểm toán: Bao gồm các hoạt động mang tính quản lý hành chính nhà nước nội bộ như lập kế hoạch dài hạn và kế hoạch kiểm toán hàng năm, phân công phân cấp, quản lý nhân sự, kiểm soát chất lượng kiểm toán.
- Cơ chế thực hiện kiểm toán: Bao gồm quy trình triển khai các cuộc kiểm toán cụ thể, thu thập bằng chứng, áp dụng chuẩn mực kiểm toán, lập báo cáo và kiến nghị kiểm toán.
Chương 2: Đánh giá thực trạng mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Chương 2 phân tích quá trình hình thành và phát triển của KTNN Việt Nam qua các mốc pháp lý quan trọng: từ giai đoạn thành lập theo Nghị định 70/CP (11/7/1994), điều chỉnh theo Nghị định 93/2003/NĐ-CP (13/8/2003), đến bước ngoặt chuyển đổi căn bản theo Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005. Luận án khảo sát cơ cấu tổ chức bộ máy và đánh giá thực trạng:
- Về cơ cấu tổ chức bộ máy: Hệ thống KTNN thời kỳ trước năm 2006 được tổ chức theo mô hình cơ quan trực thuộc Chính phủ, vận hành theo chế độ thủ trưởng kết hợp phân công phân cấp; tổ chức gồm 07 đơn vị kiểm toán chuyên ngành ở Trung ương (theo dõi các khối bộ ngành, doanh nghiệp, dự án đầu tư) và 05 đơn vị KTNN khu vực (phụ trách các địa bàn kinh tế - hành chính).
- Về cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện kiểm toán: Hoạt động kiểm toán được tổ chức chủ yếu theo mô hình 02 cấp trong quản lý kiểm toán (cấp cơ quan KTNN và cấp đoàn kiểm toán). Các đoàn kiểm toán được thành lập theo từng chuyên đề hoặc niên độ ngân sách.
- Kết quả hoạt động đạt được: Tiến hành hàng nghìn cuộc kiểm toán đối với báo cáo quyết toán ngân sách các bộ, ngành, địa phương, dự án đầu tư xây dựng cơ bản và doanh nghiệp nhà nước; kiến nghị xử lý tài chính tăng thu, tiết kiệm chi và thu hồi về ngân sách nhà nước hơn 20 nghìn tỷ đồng; từng bước mở rộng kiểm toán tuân thủ và bước đầu thực hiện thí điểm kiểm toán hoạt động.
- Các hạn chế và bất cập chính được chỉ ra:
- Địa vị pháp lý trước khi có Luật KTNN 2005 chưa bảo đảm tính độc lập khách quan do cơ quan kiểm toán nằm trong cơ cấu nhánh hành pháp.
- Phân công, phân cấp trong quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động kiểm toán còn chồng chéo giữa các kiểm toán chuyên ngành và kiểm toán khu vực; phân định thẩm quyền giữa Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng tổ kiểm toán và Kiểm toán viên chưa thật sự rõ ràng.
- Quy trình lập kế hoạch kiểm toán hàng năm còn thụ động, chưa có hệ thống tiêu chí chọn mẫu rủi ro khoa học.
- Chưa thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm pháp lý bắt buộc đối với các đơn vị được kiểm toán trong việc thực thi kết luận, kiến nghị kiểm toán.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của KTNN Việt Nam
Chương 3 đề xuất phương hướng phát triển KTNN Việt Nam phù hợp với Luật KTNN năm 2005 và bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, tập trung vào các giải pháp cụ thể:
- Phương hướng và mục tiêu: Xây dựng KTNN Việt Nam trở thành cơ quan kiểm tra tài chính công độc lập, hoạt động chuyên nghiệp, hiện đại, tuân thủ pháp luật và từng bước tiếp cận các chuẩn mực kiểm toán quốc tế của INTOSAI, ASOSAI; phục vụ đắc lực cho hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và công tác quản lý điều hành của Chính phủ.
- Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức KTNN:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy theo mô hình cơ quan do Quốc hội thành lập, vận hành theo cơ chế kết hợp giữa chế độ thủ trưởng (Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội) và đề cao trách nhiệm pháp lý độc lập của Kiểm toán viên khi thực hiện nhiệm vụ.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức các đơn vị KTNN chuyên ngành theo hướng chuyên môn hóa sâu theo các lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, quốc phòng - an ninh, đầu tư dự án.
- Mở rộng và củng cố mạng lưới các cơ quan KTNN khu vực nhằm bao quát toàn diện việc kiểm toán ngân sách địa phương.
- Hoàn thiện các cơ quan tham mưu, giúp việc về pháp chế, thẩm định báo cáo kiểm toán, thanh tra kiểm soát nội bộ và đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
- Giải pháp hoàn thiện cơ chế hoạt động:
- Chuyển đổi mô hình quản lý hoạt động kiểm toán từ mô hình 02 cấp sang mô hình 03 cấp (Cấp Kiểm toán Nhà nước -> Cấp Kiểm toán chuyên ngành/KTNN khu vực -> Cấp Đoàn/Tổ kiểm toán) nhằm tăng cường trách nhiệm soát xét chất lượng báo cáo kiểm toán.
- Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước, kiểm toán dự án đầu tư và quy chế kiểm soát chất lượng kiểm toán.
- Xây dựng cơ chế phối hợp và phân định rõ phạm vi hoạt động giữa KTNN với Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Tài chính nhằm tránh thanh tra, kiểm tra trùng lặp tại cơ sở.
- Nâng cao hiệu lực bắt buộc thực hiện các kiến nghị kiểm toán thông qua việc quy định chế tài xử lý, báo cáo công khai kết quả thực hiện kiến nghị trước Quốc hội và công chúng.
- Hiện đại hóa công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ kiểm toán viên nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn quản lý:
-
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về vị trí, vai trò, chức năng và các nhân tố chi phối hoạt động của cơ quan kiểm toán nhà nước trong quản lý tài chính công.
- Phân tích, so sánh ba mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới (thuộc lập pháp, thuộc hành pháp và độc lập với cả hai nhánh), chỉ ra ưu nhược điểm của từng mô hình và làm rõ nguyên tắc độc lập theo Tuyên bố Lima của INTOSAI.
- Luận giải cơ sở khoa học của cơ chế vận hành kiểm toán gồm hai nhánh: quản lý kiểm toán hành chính và thực hiện kiểm toán nghiệp vụ.
-
Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động của KTNN Việt Nam sau hơn 10 năm thành lập, chỉ ra những thành tựu kinh tế - xã hội (kiến nghị xử lý tài chính hơn 20 nghìn tỷ đồng) và các điểm bất cập về thể chế trước thời điểm thi hành Luật KTNN 2005.
- Đề xuất hệ thống giải pháp kiện toàn bộ máy KTNN Việt Nam theo hướng cơ quan độc lập trực thuộc Quốc hội; xác lập mô hình tổ chức quản lý hoạt động kiểm toán 03 cấp; hoàn thiện các quy chế phân công, phân cấp và cơ chế phối hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu lực thực thi các báo cáo kiểm toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu ở tầm quản lý vĩ mô về mặt tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành thể chế; do đó không đi sâu giải quyết các vấn đề nghiệp vụ kỹ thuật chi tiết như quy trình chọn mẫu thống kê, phương pháp phân tích rủi ro kiểm toán hoặc phương pháp kiểm toán chi tiết cho từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước cụ thể tương thích với chuẩn mực kiểm toán quốc tế; nghiên cứu sâu về phương pháp luận và cẩm nang kiểm toán hoạt động (KTHĐ); xây dựng quy trình và tiêu chí kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ lãnh đạo cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Nội dung của luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng:
- Các nhà hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội và cán bộ quản lý ngành kiểm toán: Tham khảo luận cứ lý luận và mô hình so sánh quốc tế để tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật về KTNN, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật KTNN và quy chế phối hợp công tác giữa KTNN với các cơ quan thanh tra, tư pháp.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên chuyên ngành kiểm toán, tài chính công, quản trị công: Tham khảo Chương 1 về khung lý thuyết giám sát tài chính công, phân loại mô hình KTTC trên thế giới theo Tuyên bố Lima và Chương 2 về lịch sử hình thành, phát triển thể chế KTNN Việt Nam giai đoạn 1994–2005.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Theo luận án, Tuyên bố Lima năm 1977 của INTOSAI đưa ra những chỉ dẫn trọng yếu nào về tính độc lập của cơ quan kiểm toán nhà nước?
Trả lời: Tuyên bố Lima khẳng định cơ quan KTNN chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách khách quan và hiệu lực nếu được đặt độc lập với đơn vị được kiểm toán và được bảo vệ trước các tác động từ bên ngoài. Tính độc lập này bao gồm: độc lập về tổ chức (được quy định trong Hiến pháp/Luật), độc lập và khách quan trong hoạt động (tự chủ lập kế hoạch và đưa ra kết luận), độc lập về nhân sự (quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu chặt chẽ, nhiệm kỳ dài) và độc lập về tài chính (được cấp ngân sách hoạt động riêng do cơ quan lập pháp phê duyệt).
Câu hỏi 2: Ba mô hình cơ quan kiểm toán nhà nước theo địa vị pháp lý trên thế giới có những đặc trưng cơ bản nào?
Trả lời: Gồm ba mô hình: (1) Mô hình trực thuộc cơ quan lập pháp (như GAO Hoa Kỳ, Anh, Nga), gắn với quyền giám sát của Quốc hội; (2) Mô hình trực thuộc cơ quan hành pháp (như CNAO Trung Quốc), hoạt động như cơ quan kiểm soát nội bộ cấp cao của Chính phủ; và (3) Mô hình độc lập với cả lập pháp và hành pháp (như KTNN Liên bang Đức, Tòa Thẩm kế Pháp), thực hiện chức năng cơ quan tài phán độc lập chỉ tuân theo pháp luật và hỗ trợ đồng thời cho cả hai nhánh quyền lực.
Câu hỏi 3: Trong giai đoạn 1994–2005, KTNN Việt Nam được tổ chức bộ máy như thế nào và đạt được kết quả xử lý tài chính nào nổi bật?
Trả lời: KTNN Việt Nam được thành lập theo Nghị định 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ với tư cách là cơ quan chuyên môn thuộc Chính phủ; bộ máy gồm các vụ chức năng tham mưu, 07 đơn vị KTNN chuyên ngành ở Trung ương và 05 đơn vị KTNN khu vực. Qua hơn 10 năm hoạt động, KTNN đã thực hiện hàng nghìn cuộc kiểm toán và kiến nghị xử lý tài chính tăng thu, tiết kiệm chi, thu hồi về ngân sách nhà nước hơn 20 nghìn tỷ đồng.
Câu hỏi 4: Luận án đề xuất giải pháp gì về mô hình tổ chức quản lý hoạt động kiểm toán trong nội bộ KTNN Việt Nam?
Trả lời: Luận án đề xuất chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý hoạt động kiểm toán từ mô hình 02 cấp sang mô hình 03 cấp (Cấp lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước -> Cấp Thủ trưởng đơn vị kiểm toán chuyên ngành hoặc KTNN khu vực -> Cấp Trưởng đoàn và Tổ trưởng tổ kiểm toán) nhằm phân định rõ trách nhiệm chỉ đạo, tăng cường kiểm soát chất lượng báo cáo kiểm toán trước khi phát hành.
Câu hỏi 5: Luận án phân định sự khác nhau giữa hai công cụ giám sát tài chính là thanh tra và kiểm tra như thế nào?
Trả lời: Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan giám sát đối với đối tượng bị giám sát nhằm bảo đảm hoạt động diễn ra theo đúng quy định. Thanh tra là tác động có chủ đích xác định trước của cơ quan giám sát lên đối tượng khi xuất hiện các dấu hiệu không an toàn hoặc nghi ngờ sai phạm nhằm xem xét, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Văn Nhuận là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn mô hình tổ chức cùng cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam. Công trình đã làm rõ các mô hình cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới theo Tuyên bố Lima của INTOSAI, đánh giá chặng đường hơn 10 năm xây dựng và phát triển của KTNN Việt Nam từ năm 1994 đến năm 2005, đồng thời xác lập các luận cứ khoa học để hoàn thiện bộ máy và cơ chế vận hành kiểm toán trong khuôn khổ Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005. Các phân tích thể chế và đề xuất chuyển đổi mô hình quản lý kiểm toán 03 cấp mang lại giá trị học thuật và thực tiễn đối với tiến trình hiện đại hóa hệ thống kiểm tra, kiểm soát tài chính công tại Việt Nam.