Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm liên quan Rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm: rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có; và rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác (Thông tư số 34/2009/TT- NNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Theo Trần Văn Con (2006) trồng lại rừng (sau khai thác hay do bị mất rừng) được hiểu là hoạt động gây lại rừng trên đất trống đồi núi trọc, phân biệt với cải tạo rừng là hoạt động thay thế rừng nghèo kiệt thành rừng trồng có năng suất cao hơn. Hoạt động phục hồi rừng là các hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng.
Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hóa, có nhiều sự lựa chọn tùy thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ thể. Lamb và Gilmour (2003) đã đưa ra 3 nhóm hành động tương ứng với các mức độ khác nhau nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng, đó là: cải tạo rừng, phục hồi rừng và khôi phục rừng. Theo đó, các hoạt động phục hồi rừng được diễn ra trên hai loại đối tượng chính là phục hồi rừng tự nhiên và phục hồi rừng trên đất trống (dẫn theo Trần Văn Con, 2006). Theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ- TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì, cây phụ trợ (hay hỗ trợ) là cây trồng với cây trồng chính trong một thời gian nhất định có tác dụng thúc đẩy cây trồng chính sinh trưởng, phát triển tốt hơn.
Cây hỗ trợ được đề cập trong đề tài này được hiểu theo khái niệm nêu trên. Cũng theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính có thể áp dụng trong phạm vi của đề tài tại KBT bao gồm khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên và cải tạo rừng trồng hiện có hoặc trồng rừng 4 mới. Theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã đề cập của đề tài này, ở đây chỉ tập trung vào nội dung cải tạo rừng trồng hoặc trồng rừng mới. Cây họ Sao Dầu (hay họ Dầu) ở Việt Nam được nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên là các công trình nghiên cứu của người Pháp, trong đó phải kể đến bộ Thực vật chí Đông Dương gồm 8 tập của H.
Trong công trình về những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978, 1998) có liệt kê lại toàn bộ những kết quả nghiên cứu có liên quan đến thảm thực vật và các hệ sinh thái rừng chủ yếu ở nước ta, trong đó có nhiều công trình về cây họ Dầu. Gần đây hơn, Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) trong tác phẩm “Cây họ Dầu ở Việt Nam” đã hệ thống và tập hợp một cách khá đầy đủ về những đặc trưng thực vật học, phân loại học, kỹ thuật trồng và mô tả 46 loài cây họ Dầu ở Việt Nam. Theo đó, tại Việt Nam cây họ Sao Dầu có xấp xỉ 50 loài thuộc 6 chi (Anisoptera, Dipterocarpus, Hopea, Parashorea, Shorea và Vatica); trong đó, chi Dipterocarpus có 12 loài, chi Hopea có 11 loài là hai chi có nhiều loài nhất. Các loài cây họ Sao Dầu phân bố rải rác trên cả nước, nhưng phân bố tập trung chủ yếu là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Cây Sao đen, Dầu cát, Sến cát ở Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học mô tả về hình thái, giải phẫu cũng như các đặc điểm sinh học, về cơ bản không có sự khác biệt so với các đặc điểm chung của loài này ở các nước khác. Tại Việt Nam, Sao đen, Dầu cát và Sến cát phân bố tự nhiên ở hầu hết các tỉnh miền Nam từ Kon Tum trở vào, đặc biệt nhiều ở vùng Đông Nam Bộ như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và các tỉnh Tây Nguyên. Hiện nay, cả ba loài cây này đã được dẫn giống trồng nhiều nơi, kể cả các tỉnh phía Bắc, Sao đen còn được trồng trên các trục đường phố, đường giao thông và ở một số mô hình trồng cây bản địa. Một số kết quả nghiên cứu trồng cây họ Sao Dầu trong phục hồi rừng 1.
Đặc trưng về cấu trúc quần xã cây họ Sao Dầu Từ rất nhiều kết quả nghiên cứu, có thể đi đến nhất trí rằng, cây họ Sao Dầu ở Việt Nam mà chủ yếu là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng tự nhiên (Phân viện Điều tra qui hoạch rừng Nam Bộ, 5 1994). Số loài cây trong họ Sao Dầu có thể không nhiều bằng những họ khác, nhưng số cá thể thường chiếm ưu thế ở nhiều ưu hợp thực vật rừng hay trạng thái rừng. Ở vùng Đông Nam Bộ, cây họ Sao Dầu có 6 chi với gần 40 loài. Ở các khu vực nhỏ của vùng như Khu BTTN Bình Châu-Phước Bửu (tỉnh Bà Rịa) có 13 loài, Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hoá (tỉnh Đồng Nai) có 18 loài.
Những ưu hợp có cây họ Sao Dầu thường thấy ở vùng Đông Nam Bộ là: ưu hợp họ Dầu + họ Thị + họ Sến; ưu hợp họ Dầu + họ Sến cát; ưu hợp họ Dầu + họ Bồ hòn + họ Sim; ưu hợp họ Dầu + họ Bồ hòn + họ Thị (Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, 2000, 2003 và 2009). Khả năng kết nhóm của các loài cây họ Sao Dầu là một đặc điểm lâm học quan trọng, giữa các loài cây luôn có các quan hệ hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh trưởng, sinh tồn và phát triển. Tác giả đã chỉ ra rằng, trong tổ thành của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đối có hai nhóm sinh thái khá rõ rệt: nhóm Dầu song nàng – Dầu rái và nhóm Dầu rái – Cám – Trâm quầng. Kết quả nghiên cứu sự kết nhóm sinh thái giữa một số loài cây gỗ rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới của một số tác giải khác như Trần Văn Con (2006), Nguyễn Xuân Hùng (2009) cũng là một trong số những nghiên cứu theo hướng đó.
Một số kết quả chỉ ra rằng, trong kết cấu rừng của các ưu hợp ở khu vực rừng Bình Châu-Phước Bửu tồn tại các dạng kết nhóm theo cặp loài và tổ hợp loài. Kết nhóm theo cặp (hai loài) có: Dầu cát – Cầy, Dầu cát – Sến cát, Dầu cát – Trâm trắng; kết nhóm theo tổ hợp (trên hai loài) có: Dầu cát – Trâm trắng – Cầy, Trâm trắng – Dầu cát – Sến cát. Khi xử lý kiểu rừng này cần bảo vệ độ ưu thế của các loài trong kết cấu rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1994). Ở phía Bắc, cùng mọc với các loài trong họ Sao Dầu ở tầng tán rừng và dưới tán còn có những loài cây lá rộng thường xanh khác trong hệ thực vật bản địa như các loài trong họ Đậu (Leguminosaseae), họ Giẻ (Fagaceaea), họ Sim (Myrtacceae), họ Xoan (Meliaceae) (Hoàng Phú Mỹ và Võ Đại Hải, 2013).
Rừng trồng cây họ Sao Dầu Công trình trồng cây họ Sao Dầu đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là của Paul Mourand (1920) (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1998) đã thử nghiệm trồng Dầu rái và Sao đen tại Trạm thực nghiệm Trảng Bom theo 3 công thức: Công thức 1: Trồng thuần loài với mật độ cao lên tới 20. Ưu điểm là rất sớm hình thành quần thể nhưng nhược điểm rõ nhất là cạnh tranh và sớm, phải tỉa thưa và tốn kém trong việc tạo rừng. Công thức 2: Trồng theo rạch dưới tán rừng tự nhiên. Ở công thức này, cây trồng sinh trưởng kém do không cạnh tranh được với cây tự nhiên.
Sau này, có cải tiến mở các băng rộng hơn thay thế cho các rạch hẹp. Công thức 3: Trồng Sao đen, Dầu rái với các loài cây phù trợ như Đậu chàm (Indigofera teysmanii) và Muồng đen (Senna siamea). Đây là hai loài cây che phủ đất ban đầu, ngăn chặn cỏ dại và che bóng giai đoạn đầu. Từ những nghiệm thức này, về sau nhiều loài cây họ Sao Dầu khác cũng đã được thử nghiệm trồng và những cây phù trợ cũng đa dạng hơn như Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo tai tượng (A.
mangium), Keo dậu (Leucaena leucocephala) hoặc một số loài cây nông nghiệp dài ngày khác như Điều (Anacardium occidentale), các cây ăn quả khác như Xoài, Mít, Bưởi, … Có thể nói, Đông Nam Bộ là vùng có nhiều loài cây họ Sao Dầu nói riêng và cây bản địa nói chung được đưa vào thử nghiệm trồng đa dạng nhất ở nước ta, đặc biệt là các loài của rừng ẩm nhiệt đới như Dầu song nàng, Sến cát cát, Vên vên, Sao đen, Sến cát mủ… Thống kê bước đầu có 24 loài cây bản địa đã được gây trồng ở vùng Đông Nam Bộ thời gian qua. Các loài cây trồng bản địa trong các mô hình thường gồm: Sến cát, Dầu trà beng, Sao đen, Vên vên, Bằng lăng, Gõ đỏ, Muồng đen, Gáo vàng,… Các loài tiêu biểu gồm có: Sến cát, Sao đen, Vên vên, Dầu song nàng, Dầu trà beng, Dầu mít, Sến cát, Gõ đỏ, Cẩm lai, Bằng lăng, Dáng hương, Gõ mật, Ươi, v. Có thể điểm lại một số kết quả chính về trồng cây họ Sao Dầu trong vùng như sau: 7 (1) Tại Đồng Nai, có 94 mô hình trồng rừng có cây bản địa bao gồm: trồng thuần loại một loài cây có 10 mô hình, trồng hỗn giao hai loài cây có 36 mô hình, hỗn giao ba loài cây có 36 mô hình, hỗn giao bốn đến năm loài cây có 12 mô hình. Có hai phương thức trồng chính được áp dụng là trồng Sao đen và Sến cát thuần loài hoặc hỗn loài có xen với một số loài cây phù trợ như Keo lá tràm, Điều và cây ăn quả như Xoài, Mít.
Ở những nơi có mật độ trồng cao (trên 1.600 cây/ha), cây sinh trưởng trung bình hoặc kém trong khi cây trồng có mật độ thấp hơn lại có các giá trị sinh trưởng tốt hơn (Nguyễn Văn Quý, 2011). Tại rừng trồng Sao đen và Dầu rái thuần với mật độ 416 cây (Sao đen) và 312 cây (Dầu rái) có xen cây nông nghiệp sinh trưởng tương đối tốt trong những năm đầu do được chăm sóc và bảo vệ tốt. Khi cây nông nghiệp được thu hoạch, người ta thường không tập trung vào các cây Sao đen, Dầu rái nên có sự suy giảm mật độ và sinh trưởng (Tô Bá Thanh, 2009; Phạm Xuân Hoàn, 2012). Năm 2013, trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hồng đã tiến hành nghiên cứu bổ sung kỹ thuật gây trồng Sao đen và Dầu rái tại Lâm Đồng, Bình Phước và Gia Lai.