Tổng quan nghiên cứu
Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại Việt Nam cho thấy hoạt động chứng minh luôn đóng vai trò trung tâm quyết định đến chất lượng và tính công bằng của phán quyết tư pháp. Theo số liệu thống kê tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2014 đến ngày 31/5/2018, cơ quan này đã thụ lý và giải quyết hơn 2.500 vụ việc dân sự, trong đó tỷ lệ các vụ án phát sinh khó khăn, vướng mắc trong khâu thu thập, giao nộp và xác minh tài liệu chứng cứ chiếm khoảng 18% đến 25% tổng số thụ lý. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa quan điểm cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm đẩy mạnh tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 đã đánh dấu bước chuyển biến căn bản khi lần đầu tiên quy định chi tiết chế định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền và nghĩa vụ giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; phân tích toàn diện thực trạng áp dụng các quy định này tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình từ năm 2016 đến năm 2018; đồng thời nhận diện những lỗ hổng pháp lý dẫn đến tình trạng đương sự lạm dụng quyền tố tụng để kéo dài thời gian xét xử hoặc gây ra việc hủy án sơ thẩm. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm giảm tỷ lệ các bản án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan xuống dưới mức 0,5% theo chỉ tiêu tại Nghị quyết số 63/2013/QH13 của Quốc hội, đồng thời rút ngắn thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm bình quân từ 6 đến 8 tháng xuống đúng thời hạn luật định là 4 tháng đối với các tranh chấp dân sự thông thường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng nền tảng của lý thuyết nhận thức trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, khẳng định chứng cứ là hiện thực khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người nhưng được phản ánh thông qua các dạng vật chất như tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử hoặc vật chứng. Bên cạnh đó, tác giả áp dụng lý thuyết so sánh mô hình tố tụng, đối chiếu giữa mô hình tố tụng thẩm vấn truyền thống của Việt Nam với mô hình tố tụng tranh tụng của các nền tư pháp phát triển như Cộng hòa Pháp (theo các Điều 132, 134, 135 và 783 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp), Liên bang Nga (theo các Điều 57, 150, 152 Bộ luật Tố tụng dân sự Nga), Nhật Bản (Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản) và Hoa Kỳ với chế định tiết lộ chứng cứ trước phiên tòa.
Khung lý thuyết của đề tài tập trung làm rõ 5 khái niệm pháp lý cốt lõi:
- Chứng cứ trong vụ việc dân sự (Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) với 3 thuộc tính không thể tách rời: tính khách quan, tính hợp pháp và tính liên quan.
- Quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ (Điều 96) - hành vi tố tụng của đương sự nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91.
- Quyền tiếp cận chứng cứ (khoản 8 Điều 70) - quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu do đối phương giao nộp hoặc do Tòa án thu thập.
- Hoạt động công khai chứng cứ (Điều 210) - việc Tòa án công bố danh mục tài liệu, chứng cứ tại phiên họp chuẩn bị xét xử để các bên kiểm tra, đối đáp.
- Nguyên tắc đảo nghĩa vụ chứng minh (khoản 1 Điều 91) - cơ chế ngoại lệ bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp bao gồm các hồ sơ vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động đã được giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình trong thời gian 4 năm từ 2014 đến 31/5/2018, cùng hệ thống dữ liệu thứ cấp là các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các công trình khoa học chuyên ngành.
Về quy trình chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu gồm 150 hồ sơ vụ án điển hình có phát sinh tranh chấp phức tạp về chứng cứ, có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hoặc có kháng cáo xuất hiện chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm. Cỡ mẫu 150 hồ sơ này chiếm tỷ lệ khoảng 6% tổng số lượng án dân sự thụ lý trong giai đoạn nghiên cứu, bảo đảm tính đại diện cao cho các xung đột pháp lý điển hình tại địa bàn đô thị lớn. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích là nhằm tập trung bóc tách sâu những vụ án bộc lộ rõ nhất xung đột giữa nghĩa vụ chứng minh của đương sự và trách nhiệm xác minh của Tòa án, thay vì dàn trải trên các hồ sơ công nhận thuận tình ly hôn hoặc tranh chấp giản đơn.
Các phương pháp phân tích chính được triển khai gồm:
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (normative legal analysis) để giải mã câu chữ, cấu trúc logic của các điều luật trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Phương pháp so sánh luật học (comparative law method) đối chiếu quy định trong nước với pháp luật 4 quốc gia (Pháp, Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ) nhằm tìm kiếm kinh nghiệm hoàn thiện lập pháp.
- Phương pháp thống kê mô tả (descriptive statistics) để lượng hóa tỷ lệ thụ lý, tỷ lệ hòa giải thành và tỷ lệ án bị hủy/sửa qua 4 năm. Việc kết hợp đồng bộ các phương pháp này giúp bảo đảm tính khách quan, khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn của toàn bộ luận văn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình giai đoạn 2014 đến ngày 31/5/2018 đã mang lại 3 phát hiện khoa học quan trọng:
Thứ nhất, tồn tại kẽ hở pháp lý nghiêm trọng về thời hạn giao nộp chứng cứ và tình trạng lạm dụng để trì hoãn tố tụng. Khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán ấn định không vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng lại mở ra ngoại lệ cho phép đương sự giao nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm nếu có "lý do chính đáng". Thực tế cho thấy hơn 60% các vụ án bị cấp phúc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm bắt nguồn từ việc đương sự bất ngờ giao nộp tài liệu mới tại phiên tòa phúc thẩm với lý do chung chung là "mới tìm thấy". Điển hình là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Đoàn Minh Hà và ông Nguyễn Hoàng Huy, bà Nguyễn Thị Thái tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình với số tiền nợ gốc tranh chấp 13.000.000 đồng và lãi suất từ 0,2% đến 0,35%/ngày; cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nhưng cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án chỉ vì bị đơn xuất trình một mảnh giấy viết tay vừa tìm thấy sau phiên tòa sơ thẩm.
Thứ hai, pháp luật hoàn toàn thiếu vắng chế tài cưỡng chế đối với hành vi cố tình che giấu, không giao nộp chứng cứ của đương sự đang nắm giữ tài liệu. Điển hình là vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng vốn góp tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn B giữa ông D và ông T với tổng giá trị chuyển nhượng 39.550.000 đồng, đã thanh toán 12.093.000 đồng, còn lại 27.457.000 đồng kèm yêu cầu phản tố khấu trừ 16.171.000 đồng tiền lợi nhuận. Mặc dù ông D trực tiếp nắm giữ toàn bộ hồ sơ kế toán giai đoạn 2006-2011 nhưng kiên quyết từ chối giao nộp theo yêu cầu của Tòa án, khiến vụ án bị tắc nghẽn kéo dài hơn 3 năm mà không thể đưa ra xét xử do Tòa án không có thẩm quyền chế tài.
Thứ ba, quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (Điều 210) đã phát huy hiệu quả tích cực khi nâng tỷ lệ hòa giải thành công tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình từ mức khoảng 38% - 42% giai đoạn trước năm 2016 lên mức 48% - 52% giai đoạn 2016-2018. Tuy nhiên, quy định thời hạn Tòa án phải thông báo chứng cứ thu thập được cho đương sự trong vòng 03 ngày làm việc (khoản 5 Điều 97) là quá ngắn và thiếu tính khả thi khi mỗi Thẩm phán phải giải quyết trung bình 8 đến 12 vụ án mỗi tháng; đồng thời việc luật không giới hạn số lần hoãn phiên họp (khoản 3 Điều 209) đã khiến khoảng 15% số vụ án bị kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử vượt quá quy định.
+-------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG MÔ HÌNH HÓA THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BLTTDS TẠI TAND QUẬN TÂN BÌNH |
+------------------------------------+-------------------+----------------+
| Tiêu chí khảo sát thực tiễn | Giai đoạn 2014-16 | Giai đoạn 2016-18|
+------------------------------------+-------------------+----------------+
| Tỷ lệ hòa giải thành công | 38% - 42% | 48% - 52% |
| Tỷ lệ hủy án do xuất hiện CC mới | Khoảng 55% | Hơn 60% |
| Án chậm tiến độ do thiếu chế tài CC| Khoảng 20% | Khoảng 18% |
+------------------------------------+-------------------+----------------+
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại nêu trên xuất phát từ sự xung đột giữa tư duy tố tụng thẩm vấn truyền thống (Tòa án phải chủ động đi tìm sự thật khách quan) với nguyên tắc tố tụng tranh tụng hiện đại (đương sự phải tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ chứng minh). Do tâm lý "sợ bị hủy án", các Thẩm phán cấp sơ thẩm thường có xu hướng chấp nhận mọi tài liệu do đương sự nộp muộn thay vì kiên quyết bác bỏ.
Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, pháp luật Cộng hòa Pháp tại Điều 783 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định sau khi kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, mọi tài liệu không được trao đổi trước đó đương nhiên bị coi là vô hiệu. Tương tự, pháp luật Nhật Bản (Điều 161) và Liên bang Nga (Điều 150) đều cho phép Thẩm phán áp dụng chế tài phạt tiền hoặc buộc bồi thường thiệt hại đối với bên cố tình trì hoãn nộp chứng cứ. Dữ liệu nghiên cứu tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình có thể được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh cơ cấu nguyên nhân hủy án sơ thẩm, trong đó nhóm nguyên nhân do đương sự cung cấp chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm chiếm vị trí áp đảo với hơn 60%, nhóm do đánh giá chứng cứ chưa toàn diện chiếm khoảng 25% và các vi phạm thủ tục khác chiếm 15%. Điều này khẳng định nếu không thiết lập "điểm chốt chặn" chứng cứ nghiêm ngặt trước khi mở phiên tòa, nguyên tắc tranh tụng sẽ tiếp tục bị vô hiệu hóa trên thực tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
-
Sửa đổi, bổ sung quy định về thời điểm chốt chặn giao nộp chứng cứ: Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần sửa đổi khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng xác định thời điểm cuối cùng đương sự được quyền giao nộp tài liệu, chứng cứ là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Mọi tài liệu nộp sau thời điểm này sẽ bị coi là không hợp lệ và không có giá trị chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm lẫn phúc thẩm, trừ trường hợp bất khả kháng. Mục tiêu cụ thể là giảm 80% tình trạng "đánh úp bằng chứng cứ mới" tại cấp phúc thẩm; thời gian hoàn thành trong lộ trình sửa đổi luật giai đoạn 2024-2026 do Quốc hội chủ trì.
-
Ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về "lý do chính đáng" và chế tài tố tụng: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 96 và Điều 210, trong đó liệt kê rõ ràng 4 trường hợp được coi là lý do chính đáng (như thiên tai, dịch bệnh, ốm đau có xác nhận của cơ sở y tế tuyến huyện trở lên, hoặc cơ quan lưu trữ chậm cung cấp tài liệu quá 30 ngày); đồng thời thiết lập chế tài phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cố tình cản trở việc xác minh chứng cứ. Mục tiêu là nâng tỷ lệ chấp hành yêu cầu cung cấp chứng cứ lên trên 90%; thời gian thực hiện trong vòng 12 tháng do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì.
-
Mở rộng phạm vi áp dụng nguyên tắc đảo nghĩa vụ chứng minh: Quốc hội cần bổ sung vào Điều 91 quy định mở rộng nguyên tắc đảo nghĩa vụ chứng minh sang các tranh chấp kinh doanh thương mại và doanh nghiệp nội bộ khi một bên chứng minh được đối phương đang nắm giữ độc quyền toàn bộ sổ sách kế toán, chứng từ thu chi nhưng cố tình từ chối cung cấp. Mục tiêu là tháo gỡ dứt điểm 100% các vụ án bế tắc hồ sơ tương tự trường hợp tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn B; thời gian thực hiện trong giai đoạn 2025-2027 do Bộ Tư pháp phối hợp Tòa án nhân dân tối cao soạn thảo.
-
Chuẩn hóa quy trình tố tụng và ứng dụng công nghệ thông tin: Tòa án nhân dân tối cao cần sửa đổi quy định tại khoản 5 Điều 97, nâng thời hạn Tòa án thông báo tài liệu thu thập được cho đương sự từ 03 ngày làm việc lên 07 ngày làm việc để bảo đảm tính khả thi; đồng thời bổ sung quy định khống chế số lần hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ không quá 02 lần. Song song đó, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân quận Tân Bình cần triển khai hệ thống tống đạt và tiếp cận tài liệu số hóa qua Cổng dịch vụ công trực thăng tiến độ giải quyết án nhanh hơn 25% (rút ngắn thời gian giải quyết bình quân từ 120 ngày xuống dưới 90 ngày); thời gian triển khai ngay trong chương trình chuyển đổi số tư pháp.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và các kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:
-
Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử tại Tòa án các cấp: Cung cấp quy trình chuẩn mực và kỹ năng điều hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; giúp Thẩm phán nhận diện các hành vi lạm dụng thủ tục, kiên quyết xử lý chứng cứ nộp chậm không có căn cứ, qua đó kéo giảm tỷ lệ bản án bị hủy, sửa xuống dưới mức 1% hàng năm.
-
Luật sư, Trọng tài viên và Chuyên gia tư vấn pháp lý: Giúp các luật sư xây dựng chiến lược thu thập, chứng minh và sao gửi chứng cứ hiệu quả theo khoản 9 Điều 70; tối ưu hóa kỹ năng tranh tụng tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ nhằm gia tăng tỷ lệ đàm phán hòa giải thành công lên trên 50% ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
-
Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên chuyên ngành Luật: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống hơn 150 hồ sơ vụ án thực chứng và khung lý thuyết hoàn chỉnh về tố tụng tranh tụng, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy môn Luật Tố tụng dân sự và hoàn thiện các đề tài thạc sĩ, tiến sĩ luật học.
-
Lãnh đạo doanh nghiệp, Giám đốc pháp chế và các chủ thể kinh doanh: Cung cấp kiến thức quản trị rủi ro pháp lý trong việc thiết lập, lưu trữ hồ sơ, hóa đơn, chứng từ kế toán theo quy định thời hạn 5 đến 10 năm của Luật Kế toán; chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, tránh nguy cơ thua kiện hoặc bị xử lý bất lợi khi phát sinh tranh chấp tại cơ quan tài phán.
Câu hỏi thường gặp
Thời điểm cuối cùng đương sự được quyền giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án sơ thẩm là khi nào?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (từ 4 đến 6 tháng). Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, đương sự chỉ được giao nộp bổ sung nếu chứng minh được lý do chính đáng, chẳng hạn như cơ quan chức năng chậm phản hồi yêu cầu trích sao hồ sơ địa chính quá 30 ngày.
Nếu đương sự cố tình từ chối giao nộp chứng cứ đang nắm giữ thì Tòa án xử lý ra sao?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án dựa trên các tài liệu, chứng cứ sẵn có trong hồ sơ. Đương sự có nghĩa vụ nhưng không giao nộp chứng cứ sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình ghi nhận khoảng 12% yêu cầu phản tố bị bác bỏ do đương sự không chịu xuất trình chứng từ kế toán gốc.
Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mang lại lợi ích cụ thể gì?
Phiên họp theo Điều 210 là thủ tục bắt buộc giúp công khai minh bạch toàn bộ chứng cứ của các bên và của Tòa án thu thập được, loại bỏ hoàn toàn yếu tố bất ngờ trước phiên tòa. Tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình giai đoạn 2016-2018, quy trình này đã trực tiếp thúc đẩy tỷ lệ các bên tự nguyện hòa giải thành công đạt mức 48% đến 52% trên tổng số thụ lý.
Đương sự có bắt buộc phải tự gửi bản sao chứng cứ cho bên đối tụng không?
Có. Khoản 9 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự có nghĩa vụ gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp. Quy định này bảo đảm nguyên tắc bình đẳng tranh tụng tại Điều 24, tạo điều kiện để các bên có thời gian tối thiểu 15 ngày nghiên cứu và chuẩn bị phương án phản biện.
Tại sao việc xuất trình chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm lại là nguyên nhân hàng đầu làm hủy án sơ thẩm?
Do cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án khi xuất hiện tài liệu làm thay đổi bản chất vụ việc mà cấp sơ thẩm chưa từng được tiếp cận. Trong giai đoạn 2014-2018 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, hơn 60% số vụ án bị hủy tại cấp phúc thẩm đều bắt nguồn từ việc bị đơn kháng cáo và nộp bổ sung chứng cứ then chốt mà trước đó không cung cấp cho Tòa sơ thẩm.
Kết luận
- Luận văn đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc, xác định rõ bản chất pháp lý và 3 thuộc tính của chứng cứ, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự.
- Khảo sát thực tiễn 4 năm (2014-2018) tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình với hơn 2.500 vụ án, chỉ rõ thực trạng hơn 60% bản án sơ thẩm bị hủy xuất phát từ việc đương sự giao nộp chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm.
- Nhận diện chính xác 3 rào cản pháp lý lớn: thiếu chế tài cưỡng chế giao nộp chứng cứ, lỗ hổng định nghĩa "lý do chính đáng" tại Điều 96 và áp lực bất khả thi của thời hạn thông báo 03 ngày tại Điều 97.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện lập pháp, ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, mở rộng nguyên tắc đảo nghĩa vụ chứng minh và chuẩn hóa quy trình chuyển đổi số.
- Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm, giảm tải áp lực cho hệ thống Tòa án và bảo đảm quyền tranh tụng công bằng cho mọi chủ thể tham gia tố tụng.
Về đóng góp chính, công trình đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh của đương sự và thẩm quyền hỗ trợ của Tòa án trong giai đoạn cải cách tư pháp. Về kế hoạch tiếp theo, các đề xuất cần được tổng kết để kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh giai đoạn 2024-2026 và kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn nghiệp vụ trong vòng 12 tháng tới. Các chuyên gia pháp lý, cơ quan quản lý tư pháp và cộng đồng luật sư cần tích cực tham gia phản biện, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để cùng xây dựng một nền tư pháp Việt Nam dân chủ, công minh và hiện đại.