Tổng quan nghiên cứu
Giai đoạn đổi mới kinh tế từ năm 1989 đến 1992 đã mở ra bước ngoặt căn bản cho hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt các tổ chức nghiên cứu và phát triển trước yêu cầu tự chủ cấp thiết. Để tạo hành lang pháp lý thích ứng, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 35/HĐBT ngày 28/01/1992, cho phép thành lập các tổ chức khoa học tự trang trải kinh phí, thường gọi là các đơn vị 35. Chỉ tính riêng trong 2 năm đầu tiên áp dụng, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thành lập gần 20 đơn vị trực thuộc nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.
Tuy nhiên, sau gần 2 thập kỷ vận hành đến năm 2010, mô hình này bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Vấn đề cốt lõi là sự lỏng lẻo trong quan hệ hành chính giữa viện chuyên ngành và các đơn vị trực thuộc, cùng sự suy giảm hàm lượng khoa học trong các sản phẩm thương mại. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ với dung lượng 85 trang tập trung giải quyết mục tiêu: Đánh giá toàn diện thực trạng, xác định nguyên nhân bất cập và hoạch định hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị 35. Phạm vi không gian của nghiên cứu tập trung vào các viện chuyên ngành và đơn vị 35 tại khu vực Hà Nội từ năm 1992 đến năm 2010. Công trình có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp luận cứ khoa học để tái cấu trúc tổ chức, hướng tới nâng tỷ lệ thương mại hóa công nghệ và hiện thực hóa mục tiêu tự chủ tài chính 100% theo các quy định mới của Chính phủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý khoa học hiện đại kết hợp với các quan điểm thể chế kinh tế chuyển đổi. Khung lý thuyết trọng tâm dựa trên mô hình chuỗi giá trị nghiên cứu và triển khai của trường phái quản trị tri thức hiện đại, phân định rõ chu trình từ nghiên cứu cơ bản thuần túy, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ đến sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Hoạt động khoa học và công nghệ được tiếp cận toàn diện theo định nghĩa của UNESCO và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, coi đây là một quá trình sản xuất tri thức có tổ chức nhằm biến đổi nguồn lực thành sản phẩm có giá trị gia tăng.
Luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:
- Hoạt động nghiên cứu và phát triển: Quá trình sáng tạo tri thức mới và thử nghiệm công nghệ.
- Dịch vụ khoa học và công nghệ: Hoạt động tư vấn, kiểm định, chuyển giao và phổ biến tri thức.
- Đơn vị 35: Mô hình tổ chức nghiên cứu tự trang trải tài chính hình thành theo Nghị định 35/HĐBT năm 1992.
- Doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Pháp nhân kinh doanh dựa trên việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp quan điểm đổi mới cơ chế quản lý khoa học theo Quyết định 171/2004/QĐ-TTg, nhấn mạnh việc tách biệt quản lý hành chính công với quản trị sự nghiệp kinh doanh tri thức.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích tài liệu pháp quy và khảo sát thực chứng định tính. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm 8 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt ban hành từ năm 1981 đến năm 2008, tiêu biểu như Quyết định 175/CP năm 1981, Nghị định 35/HĐBT năm 1992, Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP, cùng các báo cáo tài chính, tổng kết hoạt động định kỳ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Về dữ liệu sơ cấp, phương pháp phỏng vấn sâu định tính được áp dụng với cỡ mẫu chuẩn gồm 15 cán bộ quản lý chủ chốt. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được thực hiện tại địa bàn Hà Nội, bao gồm lãnh đạo Ban Tổ chức - Cán bộ, Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ, Trưởng phòng Quản lý tổng hợp tại các viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên, cùng Giám đốc các Liên hiệp khoa học sản xuất tiêu biểu. Lý do lựa chọn cỡ mẫu và phương pháp này là nhằm tiếp cận trực tiếp những nhân sự chịu trách nhiệm trực tiếp về mặt quản lý thể chế và điều hành thực tế, bảo đảm tính xác thực và chiều sâu của thông tin đánh giá trong suốt tiến trình lịch sử từ năm 1992 đến năm 2010.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình điều tra thực chứng tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã làm rõ 3 phát hiện cốt lõi về sự phát triển và suy thoái của mô hình đơn vị 35:
Thứ nhất, giai đoạn 1992-1995 ghi nhận sự bùng nổ về mặt tổ chức khi cơ chế tự chủ ra đời. Viện đã thành lập gần 20 đơn vị tự trang trải kinh phí chỉ trong 2 năm, nâng tổng số đơn vị trực thuộc lên gấp 2,7 lần so với mốc 10 viện thành viên ban đầu năm 1985. Các mô hình Liên hiệp khoa học sản xuất phần mềm, vật liệu kỹ thuật cao, hóa chất đã nhanh chóng đóng góp khoảng 60% đến 70% tổng nguồn thu dịch vụ khoa học công nghệ ngoài ngân sách cho đơn vị chủ quản trong những năm đầu đổi mới.
Thứ hai, hàm lượng khoa học trong sản phẩm sụt giảm mạnh theo thời gian. Khảo sát thực tế cho thấy hơn 50% số đơn vị 35 sau 15 năm hoạt động đã chuyển dịch trọng tâm sang hoạt động thương mại thuần túy, gia công dịch vụ đơn giản mà thiếu hẳn các hoạt động nghiên cứu hoàn thiện công nghệ. Tỷ lệ đề tài nghiên cứu ứng dụng có hợp đồng chuyển giao công nghệ thực chất chỉ đạt dưới 25% trong tổng số các nhiệm vụ được triển khai.
Thứ ba, cơ chế quản lý phân cấp bộc lộ sự đứt gãy nghiêm trọng. 100% các đơn vị 35 được phỏng vấn đều hoạt động dựa trên sự chủ động cá nhân của giám đốc đơn vị, thiếu sự kiểm soát tài chính và định hướng chiến lược từ viện chuyên ngành. Tình trạng nhập nhằng giữa tài sản công và tài sản đơn vị tự trang trải dẫn đến nguy cơ thất thoát nguồn lực nhà nước.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên phản ánh sự lỗi thời của khung pháp lý Nghị định 35/HĐBT trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại. Khi cơ chế bao cấp bị xóa bỏ, quyền tự chủ tài chính không đi kèm với chế tài ràng buộc trách nhiệm và tiêu chuẩn doanh nghiệp đã tạo ra kẽ hở lớn. Các số liệu thu thập có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu và bảng ma trận đánh giá hiệu quả hoạt động theo 3 nhóm chỉ số: chỉ số khoa học, chỉ số tài chính và chỉ số nhân lực.
So sánh với các nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, kết quả này hoàn toàn tương đồng với xu thế chung tại các cơ quan nghiên cứu quốc gia: Các tổ chức khoa học tự chủ nếu không chuyển đổi thành doanh nghiệp khoa học công nghệ chuyên nghiệp theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP hoặc không tái cơ cấu theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP sẽ rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng, suy thoái nguồn lực tri thức và giảm sút năng lực cạnh tranh trên thị trường công nghệ.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi:
-
Rà soát, phân loại và chuyển đổi mô hình tổ chức: Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cần chủ trì đề án chuyển đổi ít nhất 40% các đơn vị 35 có đủ năng lực công nghệ và tài chính sang hoạt động theo mô hình Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP. Thời gian hoàn thành mục tiêu này xác định trong giai đoạn 2011-2013.
-
Kiên quyết giải thể và sáp nhập các đơn vị kém hiệu quả: Viện chủ quản cần tiến hành thanh tra, xử lý dứt điểm và giải thể khoảng 30% số đơn vị hoạt động sai lệch tôn chỉ, không có đóng góp khoa học hoặc không phát sinh doanh thu nghiên cứu trong 3 năm liên tiếp. Tiến độ thực hiện cần hoàn thành trước quý IV năm 2012.
-
Hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý tài chính và tài sản: Ban Tổ chức - Cán bộ cùng Ban Kế hoạch - Tài chính cần ban hành quy chế nội bộ mới, xác lập rõ tỷ lệ phân chia lợi nhuận với mức trích nộp từ 15% đến 20% doanh thu dịch vụ vào Quỹ phát triển khoa học công nghệ của viện chuyên ngành, đồng thời phân định rõ quyền sở hữu trí tuệ giữa nhà khoa học và cơ quan chủ quản.
-
Đẩy mạnh thương mại hóa nghiên cứu ứng dụng có địa chỉ: Các viện nghiên cứu thành viên cần định hướng 100% đề tài nghiên cứu ứng dụng phải gắn liền với hợp đồng đặt hàng từ các doanh nghiệp sản xuất, thiết lập phòng thí nghiệm trọng điểm liên kết nhằm đảm bảo mọi sản phẩm thử nghiệm đều đạt chuẩn thương mại hóa đến năm 2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
-
Cơ quan hoạch định chính sách khoa học và công nghệ: Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các vụ chức năng có thể sử dụng dữ liệu luận văn để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế tự chủ, sửa đổi chính sách chuyển đổi tổ chức sự nghiệp khoa học sang doanh nghiệp.
-
Lãnh đạo các viện nghiên cứu và trường đại học: Ban giám đốc các viện trực thuộc Viện Hàn lâm, các trường đại học khối kỹ thuật có thể tham khảo phương pháp rà soát, tái cấu trúc các trung tâm chuyển giao công nghệ và xưởng sản xuất thực nghiệm.
-
Nhà khoa học và nhà quản lý doanh nghiệp công nghệ: Các giám đốc đơn vị nghiên cứu ứng dụng có thêm cơ sở thực tiễn để xây dựng phương án cổ phần hóa, huy động vốn và đăng ký doanh nghiệp khoa học công nghệ theo đúng khung pháp luật.
-
Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Người học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Đổi mới sáng tạo có thể sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo giá trị về tiến trình đổi mới thể chế khoa học tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm đơn vị 35 bắt nguồn từ đâu và có đặc điểm gì nổi bật? Khái niệm này chỉ các tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập theo Nghị định 35/HĐBT ngày 28/01/1992. Đặc điểm nổi bật nhất là quyền tự chủ tài chính, tự hạch toán kinh phí và thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ trực tiếp với thị trường mà không phụ thuộc vào ngân sách cấp phát.
-
Vì sao mô hình đơn vị 35 cần phải chuyển đổi sau năm 2010? Sau gần 20 năm, khung pháp lý của Nghị định 35/HĐBT đã hết hiệu lực và không còn phù hợp với các luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp 2005. Hơn 50% đơn vị gặp vướng mắc về tư cách pháp nhân kinh doanh và quản lý tài sản công, đòi hỏi phải chuyển sang mô hình theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP hoặc Nghị định 80/2007/NĐ-CP.
-
Tiêu chí nào để một đơn vị 35 chuyển thành doanh nghiệp khoa học công nghệ? Đơn vị phải sở hữu hoặc có quyền sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, có năng lực tạo ra sản phẩm hàng hóa từ công nghệ đó, và bảo đảm doanh thu từ sản phẩm khoa học công nghệ đạt tỷ trọng tối thiểu 30% tổng doanh thu theo quy định tại Nghị định 80/2007/NĐ-CP.
-
Phương pháp nghiên cứu phỏng vấn sâu trong luận văn mang lại lợi ích gì? Phương pháp phỏng vấn sâu 15 chuyên gia và cán bộ quản lý giúp khai thác những dữ liệu định tính chuyên sâu, phản ánh chính xác các rào cản hành chính thực tế và xung đột lợi ích giữa cơ quan quản lý và nhà khoa học mà các báo cáo định lượng hàng năm không thể hiện hết.
-
Giải pháp then chốt nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu ứng dụng là gì? Giải pháp then chốt là gắn kết nghiên cứu với địa chỉ ứng dụng thực tế. Cần chuyển từ cơ chế nghiên cứu định hướng hàn lâm sang cơ chế ký kết hợp đồng kinh tế theo đơn đặt hàng, bảo đảm 100% sản phẩm có thị trường tiêu thụ và được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức nghiên cứu tự chủ tài chính theo Nghị định 35/HĐBT trong nền kinh tế thị trường.
- Đánh giá trung thực thực trạng hoạt động của mạng lưới đơn vị 35 tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam qua 85 trang nghiên cứu chuyên sâu, chỉ rõ nguyên nhân suy giảm hàm lượng khoa học.
- Đóng góp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc phân loại, sắp xếp lại các tổ chức khoa học sự nghiệp công lập tại Việt Nam giai đoạn chuyển đổi.
- Xác lập lộ trình tái cơ cấu cụ thể với mục tiêu chuyển đổi 40% đơn vị đủ điều kiện sang doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đồng thời giải thể 30% đơn vị kém hiệu quả trước năm 2013.
- Đề xuất các cấp quản lý và nhà nghiên cứu áp dụng ngay các giải pháp đổi mới quản trị nhằm phát huy tối đa tiềm lực sáng tạo tri thức phục vụ công cuộc phát triển kinh tế đất nước.