CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN THUỘC CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lí luận về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tiếp công dân Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đón tiếp công dân nhằm lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; từ đó giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Tiếp công dân chính là cầu nối để lãnh đạo chính quyền, cán bộ nhà nước gần gũi với dân hơn. Các cán bộ lãnh đạo thông qua các buổi tiếp công dân có cơ hội nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, những băn khoăn, trăn trở của người dân. Từ đây đưa ra cách giải quyết hợp tình, hợp lý, tạo được niềm tin trong nhân dân, góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp. Đây cũng là thể hiện bản chất của Nhà nước, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Công tác tiếp công dân cũng tạo điều kiện hướng dẫn người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật. Khái niệm liên quan đến khiếu nại Pháp luật giúp Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, buộc mọi người phải tuân theo. Các văn bản, quyết định có tác động đến một người hay một nhóm người nhất định. Trong trường hợp văn bản hay quyết định đó có sai sót hoặc do cán bộ, công chức thi hành công vụ có hành vi vi phạm của công dân, cơ quan, tổ chức nên khiếu nại phát sinh.
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận theo Luật khiếu nại như sau: 8 Khiếu nại là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.[5] Như vây, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. - Người bị khiếu nại Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại. - Người giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại - Giải quyết khiếu nại Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại nại. - Thẩm quyền giải quyết khiếu nại + Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
9 + Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết. - Chánh thanh tra các cấp có thẩm quyền: Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao. Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm. * Thời hạn giải quyết khiếu nại Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. 10 Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý. Tố cáo Tố cáo phản ánh hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.[6] Những việc làm trái pháp luật không phải chỉ cán bộ, công chức nhà nước mà còn cả cơ quan, tổ chức, những hành vi trái pháp luật thường bị công dân phát hiện và báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm. Người tố cáo bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân thông qua việc tố cáo những hành hành vi vi phạm pháp luật đó. Tố cáo: là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Người bị tố cáo: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo - Người giải quyết tố cáo: Là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. - Giải quyết tố cáo: Là việc thụ lý, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và việc xử lý kết luận tố cáo của người giải quyết tố cáo. - Thẩm quyền giải quyết tố cáo: 11 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức khác do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp; Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý trực tiếp.
- Thời hạn giải quyết tố cáo: Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày. Trong trường hợp đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Vai trò, bản chất, đặc điểm của khiếu nại, tố cáo và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo 1. Vai trò Trong xã hội hiện nay, khiếu nại và tố cáo là một trong những hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lí nhà nước, quản lí xã hội và phát huy được vai trò của quần chúng nhân dân.
Thực tiễn cuộc sống cho thấy, phần lớn khiếu nại, tố cáo của công dân nảy sinh từ xã, phường, thị trấn. Là cơ quan quản lý toàn diện kinh tế -xã hội ở cơ sở, Uỷ ban nhân dân cấp xã giữ vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này, đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan trên cơ sở quy định của pháp luật. Khi có khiếu nại, tố cáo phát sinh, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải giải quyết kịp thời, đúng pháp luật sẽ sớm chấm dứt vụ việc, ngược lại nếu không giải quyết ngay, hoặc 12 giải quyết không đúng thì vụ việc sẽ trở lên phức tạp, tiếp khiếu lên cấp trên hoặc phát sinh thành điểm nóng, gây mất ổn định, ảnh hưởng xấu đến sự đoàn kết của cộng đồng dân cư, bỏ lọt tội phạm, thiệt hại về tính mạng, tài sản, danh dự, uy tín… của công dân và Nhà nước. Chính vì vậy mà Uỷ ban nhân dân cấp xã cần hết sức coi trọng và làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.