đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với họ, vì việc không xảy ra là do nguyên nhân khách quan, còn chủ quan người phạm tội vẫn sẵn sàng chấp nhận việc nó xảy ra. Trên thực tế hiện nay việc xác định các giai đoạn phạm tội đối với lỗi cố ý gián tiếp còn tùy theo tính chất của tội phạm và số lượng người phạm tội. Việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm đối với lỗi cố ý gián tiếp của những người đồng phạm đều dựa vào mức độ tham gia vào việc thực hiện tội 10 z phạm. Đơn cử như một số vụ người thực hiện hành vi tội phạm do được sự khích bác (người xúi giục), hay kích động, cổ vũ của người khác (người giúp sức) thì việc xác định giai đoạn phạm tội với những đồng phạm này cũng có nhiều điều đặt ra.
Cho đến nay trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam nhận thấy giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng như tội phạm hoàn thành chỉ xảy ra với lỗi cố ý trực tiếp. Một vấn đề đặt ra đối với việc xác định áp dụng các giai đoạn phạm tội đối với cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức. Bởi lẽ đối với các loại tội phạm cấu thành hình hình thức thì hậu quả không phải là điều kiện bắt buộc phải có, chỉ cần có dấu hiệu hành vi là tội phạm đã hoàn thành, ví dụ như tội “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại Điều 88, khoản 1 điểm c Bộ luật Hình sự 1999 quy định người nào làm ra tài liệu hoặc tàng trữ tài liệu nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với quy định này thì khi mục địch người thực hiện hành vi phạm tội là quảng bá rộng rãi tài liệu ra bên ngoài cho càng nhiều người tiếp cận càng tốt, để có được điều đó họ phải chuẩn bị các tài liệu để thực hiện, nhưng chỉ cần họ làm ra tài liệu hay tàng trữ tài liệu thì tội phạm đã hoàn thành.
Trong khi đó đối với tội phạm vật chất thì hậu quả mới là căn cứ để coi là tội phạm hoàn thành, ví dụ: A muốn trộm tài sản của nhà B nên đã nhiều lần theo dõi và chuẩn bị dụng cụ, khi A bẻ khóa vào nhà thì bị thiết bị báo động hú làm cho giật mình phải bỏ chạy nên đã không thực hiện được đến cùng hành vi. Như vậy trường hợp này mục đích thực hiện đến cùng hành vi của A đã không thể xảy ra nên chỉ có thể xem tính chất hành vi của A dừng lại ở phạm tội chưa đạt. Một vấn đề nữa được đưa ra đó là việc xác định các giai đoạn phạm tội đối với hành vi phạm tội bằng hành động và hành vi phạm tội dưới dạng không hành động. Đối với vấn đề này chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng những 11 z tội phạm được thực hiện dưới dạng không hành động thì chủ thể của hành vi đều bị động khi rơi vào tình thế phạm tội, loại tội phạm này rất ít theo quy định của luật hình sự, ý nghĩa đối với việc quy định loạt tội này đó là bắt buộc các chủ thể phải hành động để bảo vệ các mối quan hệ xã hội mà nhà nước cho là cần thiết.
Do đó nó bị động đối với người thực hiện và khi rơi vào tình thế này chủ thể chỉ có thể có hai lựa chọn là làm hoặc không làm, chỉ cần chủ thể không hành động theo quy định của luật thì tội phạm đã hoàn thành, ví dụ như tội không cứu giúp người đang nguy hiểm đến tính mạng. Như vậy mọi trường hợp phạm tội nói chung, các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều được thực hiện bằng hành vi phạm tội. Và các hành vi này chỉ có thể dưới dạng hành động. Ví dụ: Tội cướp tài sản, giết người, hiếp dâm, v.
Khoa học luật hình sự Việt Nam hiện này đều thống nhất các giai đoạn phạm tội do cố ý bao gồm - chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Với quy định này, việc xác định mức hình phạt áp dụng đối với người thực hiện những hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cụ thể hơn và quy định tỷ lệ hình phạt tối đa so với hình phạt có thể được áp dụng trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Việc quy định các giai đoạn phạm tội nói chung và quy định chính xác tội phạm chưa hoàn thành nói riêng (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt) trong từng trường hợp cụ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội bao giờ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng thấp hơn ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và tương ứng như vậy, ở giai đoạn phạm tội chưa đạt luôn thấp hơn so với giai đoạn tội phạm hoàn thành.
Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra một cách khái quát như sau: các 12 z giai đoạn phạm tội là những bước phát triển trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý, phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Cơ sở để phân chia các giai đoạn phạm tội trong luật hình sự có thể nhìn nhận dưới góc độ khoa học qua các căn cứ như sau: Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng dựa trên diễn biến khách quan của quá trình phạm tội mà cụ thể là dựa vào dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả của tội phạm để có thể chia quá trình phạm tội thành các giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Theo đó chuẩn bị phạm tội là người phạm tội mới tìm kiếm, sửa soạn công cụ thực hiện tội phạm chứ chưa thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm, phạm tội chưa đạt là trường hợp tội phạm không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội ngăn cản, nói cách khác đó là hành vi chưa thỏa mãn các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm. Còn tội phạm hoàn thành là tội phạm đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan được quy định trong luật.
Như vậy, các giai đoạn phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội không giống nhau, một hành vi phạm tội được coi là hoàn thành khi đã có những đặc điểm thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm cụ thể, còn phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội chưa thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của một loại tội phạm. Khái niệm và đặc điểm của chuẩn bị phạm tội 1. Khái niệm chuẩn bị phạm tội Như đã phân tích, các giai đoạn thực hiện phạm tội bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Có thể định nghĩa giai đoạn chuẩn bị phạm tội: 13 z Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó [39].
Trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến khi ban hành Bộ luật Hình sự 2015 mỗi thời kỳ đều có những quy định khác nhau về chuẩn bị phạm tội. Pháp luật hình sự thời kỳ phong kiến Việt Nam ghi nhận sự lưu giữ cho đến ngày nay chỉ còn lại hai bản Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long). Trong cả hai văn bản luật này đều không đưa ra một khái niệm chuẩn bị phạm tội một cách độc lập mà được cụ thể hóa trong điều luật cụ thể, có thể lấy minh chứng cụ thể bằng ví dụ tại Điều 5 Chương Đạo tặc Quyển IV (Điều 415) quy định: “Những kẻ mưu giết người, thì xử tội lưu đi châu gần; đã làm ngư ời ta bị thương thì xử tội lưu đi châu ngoài ; nếu vì bị thương mà chết thì xử tội giảo; đã giết chết thì xử tội chém”… [45]. Có thể suy luận chữ “mưu” trong điều luật đó chính là dự định cho việc sẽ thực hiện một hành vi trái với pháp luật và được hiểu như việc chuẩn bị phạm tội.
Kế thừa tinh thần làm luật của Quốc triều Hình luật, Hoàng Việt Luật lệ cũng quy định cụ thể trong định khung một số tội dưới dạng “mưu”, ví dụ: trong quyển 12 Phần Đạo Tặc Thượng Điều 1 quy định tội mưu phản đại nghịch, Điều 2 quy định tội mưu phản. Cụ thể, Điều 1 tội mưu phản đại nghịch quy định: “phàm kẻ mưu phản không làm lơ ̣i cho đấ t nư ớc, mưu hại xã tắc và đ ại nghịch không có lơ ̣i đố i v ới vua , mưu phá hủy tôn miếu, sơn lăng và cung quy ết” [25]. Mặc dù, trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ chưa đưa ra khái niệm chuẩn bị phạm tội nhưng đã chỉ ra được hình thức chuẩn bị phạm tội bằng cách quy định việc “mưu” phạm tội thành các tội phạm cụ thể. Pháp luật Hình sự Việt Nam hiện đại kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa rồi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định 14 z giai đoạn chuẩn bị phạm tội trong cả 3 văn bản Bộ luật Hình sự một cách độc lập thành một định nghĩa riêng.
Trong Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1985 ghi nhận về khái niệm chuẩn bị phạm tội tại Điều 15 “là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiê ̣n hoặc tạo ra những điều kiê ̣n cần thiết khác để thực hiê ̣n tội phạm”. Kế thừa và phát huy Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định tại điều 17: “Chuẩn bị phạm tội là tìm ki ếm, sửa soạn công cụ, phương tiê ̣n hoặc tạo ra những điều kiê ̣n cần thiết khác đ ể thực hiê ̣n t ội phạm”. Và đến Bộ luật Hình sự 2015 thì được quy định một cách chi tiết và cụ thể hơn: 1.