Nghiên Cứu Về Chuẩn Bị Phạm Tội và Phạm Tội Chưa Đạt Trong Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu chuẩn bị phạm tội phạm tội chưa đạt trong luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2018

105
13
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm các giai đoạn phạm tội và cơ sở để phân chia các giai đoạn phạm tội trong luật hình sự

1.2. Khái niệm và đặc điểm của chuẩn bị phạm tội

1.3. Khái niệm chuẩn bị phạm tội

1.4. Đặc điểm của chuẩn bị phạm tội

1.5. Khái niệm và đặc điểm của phạm tội chưa đạt

1.6. Khái niệm phạm tội chưa đạt

1.7. Đặc điểm của phạm tội chưa đạt

1.8. Phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, tội phạm hoàn thành, tội phạm kết thúc

1.9. Phân biệt chuẩn bị phạm tội với ý định phạm tội

1.10. Phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

1.11. Phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành

1.12. Phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tội phạm kết thúc

1.13. Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

1.14. Quy định chuẩn bị phạm tội trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới. Quy định phạm tội chưa đạt trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

1.15. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chuẩn bị phạm tội

2.2. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 1985. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật Hình sự 1999

2.3. Quy định về chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật Hình sự 2015

2.4. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội chưa đạt

2.5. Quy định phạm tội chưa đạt trong Bộ luật Hình sự năm 1985

2.6. Quy định phạm tội chưa đạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999

2.7. Quy định về phạm tội chưa đạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

3.2. Thực tiễn áp dụng quy định về chuẩn bị phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

3.3. Thực tiễn áp dụng quy định về phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

3.4. Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng các quy định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

3.5. Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng quy định về chuẩn bị phạm tội

3.6. Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng quy định về phạm tội chưa đạt

3.7. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

3.8. Hoàn thiện pháp luật về chuẩn bị phạm tội

3.9. Hoàn thiện pháp luật về phạm tội chưa đạt

3.10. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Các Giai Đoạn Phạm Tội Trong Luật Hình Sự

Tội phạm thường diễn ra theo một quá trình từ hành vi của chủ thể đến hậu quả. Các nhà nghiên cứu khoa học hình sự Việt Nam có nhiều quan điểm về các giai đoạn thực hiện tội phạm. TSKH Lê Văn Cảm cho rằng các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước phát triển theo trình tự nhất định mà tội phạm trải qua, thể hiện bằng việc thực hiện các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm và bằng mức độ khác nhau của việc thực hiện sự cố ý phạm tội của chủ thể. Quan điểm này chỉ rõ các giai đoạn thực hiện tội phạm theo các dấu hiệu khách quan và yếu tố lỗi. TS. Trịnh Tiến Việt thì cho rằng các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạttội phạm hoàn thành. Điều này là cơ sở lý luận để xác định trách nhiệm hình sự theo mức độ thực hiện tội phạm.

1.1. Khái Niệm Giai Đoạn Phạm Tội Theo Các Nhà Nghiên Cứu

Các nhà khoa học nghiên cứu về pháp luật hình sự Việt Nam đều thống nhất các giai đoạn phạm tội tồn tại dưới ba giai đoạn: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạttội phạm hoàn thành. Tuy có sự phân biệt về cấu trúc giai đoạn, hoặc nhìn nhận theo lý luận về mặt khách quan của từng người nhưng xét cho cùng thì tất cả đều thừa nhận các giai đoạn phạm tội chỉ tồn tại dưới hình thức lỗi cố ý, không tồn tại dưới hình thức lỗi vô ý. Việc loại bỏ các giai đoạn phạm tội đối với lỗi vô ý có thể giải thích theo mặt lý luận là do lỗi vô ý không có sự chuẩn bị trước khi thực hiện hành vi.

1.2. Cơ Sở Phân Chia Các Giai Đoạn Thực Hiện Tội Phạm

Cơ sở để phân chia các giai đoạn phạm tội dựa trên mức độ thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã hội. Giai đoạn chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên, khi chủ thể mới chỉ thực hiện các hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm. Giai đoạn phạm tội chưa đạt là giai đoạn mà chủ thể đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm, nhưng tội phạm chưa hoàn thành do những nguyên nhân khách quan. Giai đoạn tội phạm hoàn thành là giai đoạn mà hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

II. Cách Phân Biệt Chuẩn Bị Phạm Tội Với Ý Định Phạm Tội

Việc phân biệt chuẩn bị phạm tội với ý định phạm tội là rất quan trọng trong luật hình sự. Ý định phạm tội chỉ là ý nghĩ trong đầu của một người về việc thực hiện một tội phạm nào đó. Ý định này chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng bất kỳ hành vi cụ thể nào. Do đó, ý định phạm tội không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, chuẩn bị phạm tội là hành vi cụ thể nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi này đã được thể hiện ra bên ngoài và có thể gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, chuẩn bị phạm tội bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2.1. Dấu Hiệu Nhận Biết Hành Vi Chuẩn Bị Phạm Tội

Hành vi chuẩn bị phạm tội thường bao gồm việc tìm kiếm công cụ, phương tiện phạm tội, nghiên cứu địa điểm gây án, hoặc lên kế hoạch chi tiết cho việc thực hiện tội phạm. Ví dụ, một người lên mạng tìm mua súng để giết người, hoặc một nhóm người bàn bạc kế hoạch cướp ngân hàng. Những hành vi này thể hiện sự quyết tâm thực hiện tội phạm và có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng.

2.2. Ý Định Phạm Tội Suy Nghĩ Không Bị Xử Lý Hình Sự

Ý định phạm tội chỉ tồn tại trong suy nghĩ của một người và không có bất kỳ hành vi nào được thực hiện để biến ý định đó thành hiện thực. Ví dụ, một người ghét một người khác và có ý định giết người đó, nhưng chưa thực hiện bất kỳ hành vi nào để chuẩn bị cho việc giết người. Trong trường hợp này, người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự vì chưa có hành vi chuẩn bị phạm tội.

III. Hướng Dẫn Phân Biệt Phạm Tội Chưa Đạt Với Tội Hoàn Thành

Phạm tội chưa đạt và tội hoàn thành là hai khái niệm quan trọng trong luật hình sự, thể hiện mức độ thực hiện hành vi phạm tội. Phạm tội chưa đạt xảy ra khi người phạm tội đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm, nhưng tội phạm chưa hoàn thành do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội. Ví dụ, một người bắn súng vào người khác nhưng không trúng, hoặc một người trộm cắp tài sản nhưng bị phát hiện trước khi lấy được tài sản. Trong khi đó, tội hoàn thành là khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

3.1. Dấu Hiệu Của Phạm Tội Chưa Đạt Trong Luật Hình Sự

Dấu hiệu quan trọng nhất của phạm tội chưa đạt là hành vi phạm tội đã được thực hiện, nhưng hậu quả mong muốn của người phạm tội chưa xảy ra. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, như sự can thiệp của người khác, sự cố kỹ thuật, hoặc sự thay đổi tình huống bất ngờ. Mức độ trách nhiệm hình sự đối với phạm tội chưa đạt thường nhẹ hơn so với tội hoàn thành.

3.2. Tội Phạm Hoàn Thành Khi Hành Vi Đạt Mục Đích

Tội phạm hoàn thành là khi tất cả các yếu tố cấu thành tội phạm đã được thỏa mãn. Ví dụ, một người đã giết người khác thành công, hoặc một người đã trộm cắp tài sản và tẩu thoát thành công. Trong trường hợp này, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất theo quy định của pháp luật.

3.3. Mức Độ Trách Nhiệm Hình Sự Giữa Hai Trường Hợp

Mức độ trách nhiệm hình sự đối với phạm tội chưa đạt thường nhẹ hơn so với tội hoàn thành. Điều này là do hậu quả của phạm tội chưa đạt thường ít nghiêm trọng hơn so với tội hoàn thành. Tuy nhiên, mức độ trách nhiệm hình sự cụ thể sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, động cơ và mục đích của người phạm tội, và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

IV. Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Cách Thoát Trách Nhiệm Hình Sự

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định quan trọng trong luật hình sự, cho phép người phạm tội tránh được trách nhiệm hình sự nếu họ tự nguyện dừng lại trước khi tội phạm hoàn thành. Điều kiện để được hưởng chế định này là người phạm tội phải tự nguyện dừng lại, và hành vi dừng lại phải thể hiện sự ăn năn hối cải thực sự. Ví dụ, một người đang chuẩn bị giết người nhưng sau đó hối hận và tự thú với công an. Trong trường hợp này, người đó có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

4.1. Điều Kiện Để Được Miễn Trách Nhiệm Hình Sự

Để được miễn trách nhiệm hình sự khi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người phạm tội phải chứng minh được rằng họ đã tự nguyện dừng lại, và hành vi dừng lại của họ là do sự ăn năn hối cải thực sự. Nếu hành vi dừng lại là do bị phát hiện hoặc do những nguyên nhân khách quan khác, thì người phạm tội không được hưởng chế định này.

4.2. Phân Biệt Với Các Trường Hợp Phạm Tội Chưa Đạt

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khác với phạm tội chưa đạt ở chỗ, trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt, người phạm tội tự nguyện dừng lại, trong khi trong trường hợp phạm tội chưa đạt, tội phạm không hoàn thành do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội.

V. Thực Tiễn Áp Dụng Quy Định Về Chuẩn Bị Phạm Tội Tại Hà Tĩnh

Việc áp dụng các quy định về chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn và thách thức. Các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử cần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để áp dụng chính xác các quy định của pháp luật. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân về các hành vi chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt.

5.1. Thống Kê Các Vụ Án Liên Quan Đến Phạm Tội Chưa Đạt

Thống kê cho thấy số lượng các vụ án liên quan đến phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh còn khá ít. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, như việc các cơ quan điều tra chưa phát hiện kịp thời các hành vi chuẩn bị phạm tội, hoặc việc các quy định của pháp luật về chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt còn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng.

5.2. Những Khó Khăn Trong Quá Trình Điều Tra Xét Xử

Một trong những khó khăn lớn nhất trong quá trình điều tra, xét xử các vụ án liên quan đến chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt là việc xác định ý chí chủ quan của người phạm tội. Để chứng minh được rằng người phạm tội có ý định thực hiện tội phạm đến cùng, các cơ quan điều tra cần thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu liên quan.

VI. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chuẩn Bị Phạm Tội Hiện Nay

Để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt, cần có những giải pháp đồng bộ, từ việc hoàn thiện pháp luật đến việc nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt để đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch và dễ áp dụng. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

6.1. Sửa Đổi Bổ Sung Các Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự về chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt để đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch và dễ áp dụng. Đặc biệt, cần làm rõ các dấu hiệu của hành vi chuẩn bị phạm tộiphạm tội chưa đạt để tránh tình trạng áp dụng tùy tiện, gây oan sai.

6.2. Nâng Cao Năng Lực Cho Cán Bộ Thực Thi Pháp Luật

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt, cần trang bị cho các cán bộ này những kiến thức, kỹ năng cần thiết để xác định ý chí chủ quan của người phạm tội, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan, và áp dụng chính xác các quy định của pháp luật.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ chuẩn bị phạm tội phạm tội chưa đạt trong luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với họ, vì việc không xảy ra là do nguyên nhân khách quan, còn chủ quan người phạm tội vẫn sẵn sàng chấp nhận việc nó xảy ra. Trên thực tế hiện nay việc xác định các giai đoạn phạm tội đối với lỗi cố ý gián tiếp còn tùy theo tính chất của tội phạm và số lượng người phạm tội. Việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm đối với lỗi cố ý gián tiếp của những người đồng phạm đều dựa vào mức độ tham gia vào việc thực hiện tội 10 z phạm. Đơn cử như một số vụ người thực hiện hành vi tội phạm do được sự khích bác (người xúi giục), hay kích động, cổ vũ của người khác (người giúp sức) thì việc xác định giai đoạn phạm tội với những đồng phạm này cũng có nhiều điều đặt ra.

Cho đến nay trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam nhận thấy giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng như tội phạm hoàn thành chỉ xảy ra với lỗi cố ý trực tiếp. Một vấn đề đặt ra đối với việc xác định áp dụng các giai đoạn phạm tội đối với cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức. Bởi lẽ đối với các loại tội phạm cấu thành hình hình thức thì hậu quả không phải là điều kiện bắt buộc phải có, chỉ cần có dấu hiệu hành vi là tội phạm đã hoàn thành, ví dụ như tội “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại Điều 88, khoản 1 điểm c Bộ luật Hình sự 1999 quy định người nào làm ra tài liệu hoặc tàng trữ tài liệu nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với quy định này thì khi mục địch người thực hiện hành vi phạm tội là quảng bá rộng rãi tài liệu ra bên ngoài cho càng nhiều người tiếp cận càng tốt, để có được điều đó họ phải chuẩn bị các tài liệu để thực hiện, nhưng chỉ cần họ làm ra tài liệu hay tàng trữ tài liệu thì tội phạm đã hoàn thành.

Trong khi đó đối với tội phạm vật chất thì hậu quả mới là căn cứ để coi là tội phạm hoàn thành, ví dụ: A muốn trộm tài sản của nhà B nên đã nhiều lần theo dõi và chuẩn bị dụng cụ, khi A bẻ khóa vào nhà thì bị thiết bị báo động hú làm cho giật mình phải bỏ chạy nên đã không thực hiện được đến cùng hành vi. Như vậy trường hợp này mục đích thực hiện đến cùng hành vi của A đã không thể xảy ra nên chỉ có thể xem tính chất hành vi của A dừng lại ở phạm tội chưa đạt. Một vấn đề nữa được đưa ra đó là việc xác định các giai đoạn phạm tội đối với hành vi phạm tội bằng hành động và hành vi phạm tội dưới dạng không hành động. Đối với vấn đề này chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng những 11 z tội phạm được thực hiện dưới dạng không hành động thì chủ thể của hành vi đều bị động khi rơi vào tình thế phạm tội, loại tội phạm này rất ít theo quy định của luật hình sự, ý nghĩa đối với việc quy định loạt tội này đó là bắt buộc các chủ thể phải hành động để bảo vệ các mối quan hệ xã hội mà nhà nước cho là cần thiết.

Do đó nó bị động đối với người thực hiện và khi rơi vào tình thế này chủ thể chỉ có thể có hai lựa chọn là làm hoặc không làm, chỉ cần chủ thể không hành động theo quy định của luật thì tội phạm đã hoàn thành, ví dụ như tội không cứu giúp người đang nguy hiểm đến tính mạng. Như vậy mọi trường hợp phạm tội nói chung, các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều được thực hiện bằng hành vi phạm tội. Và các hành vi này chỉ có thể dưới dạng hành động. Ví dụ: Tội cướp tài sản, giết người, hiếp dâm, v.

Khoa học luật hình sự Việt Nam hiện này đều thống nhất các giai đoạn phạm tội do cố ý bao gồm - chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Với quy định này, việc xác định mức hình phạt áp dụng đối với người thực hiện những hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cụ thể hơn và quy định tỷ lệ hình phạt tối đa so với hình phạt có thể được áp dụng trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Việc quy định các giai đoạn phạm tội nói chung và quy định chính xác tội phạm chưa hoàn thành nói riêng (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt) trong từng trường hợp cụ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội bao giờ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng thấp hơn ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và tương ứng như vậy, ở giai đoạn phạm tội chưa đạt luôn thấp hơn so với giai đoạn tội phạm hoàn thành.

Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra một cách khái quát như sau: các 12 z giai đoạn phạm tội là những bước phát triển trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý, phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Cơ sở để phân chia các giai đoạn phạm tội trong luật hình sự có thể nhìn nhận dưới góc độ khoa học qua các căn cứ như sau: Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng dựa trên diễn biến khách quan của quá trình phạm tội mà cụ thể là dựa vào dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả của tội phạm để có thể chia quá trình phạm tội thành các giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Theo đó chuẩn bị phạm tội là người phạm tội mới tìm kiếm, sửa soạn công cụ thực hiện tội phạm chứ chưa thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm, phạm tội chưa đạt là trường hợp tội phạm không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội ngăn cản, nói cách khác đó là hành vi chưa thỏa mãn các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm. Còn tội phạm hoàn thành là tội phạm đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan được quy định trong luật.

Như vậy, các giai đoạn phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội không giống nhau, một hành vi phạm tội được coi là hoàn thành khi đã có những đặc điểm thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm cụ thể, còn phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội chưa thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của một loại tội phạm. Khái niệm và đặc điểm của chuẩn bị phạm tội 1. Khái niệm chuẩn bị phạm tội Như đã phân tích, các giai đoạn thực hiện phạm tội bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Có thể định nghĩa giai đoạn chuẩn bị phạm tội: 13 z Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó [39].

Trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến khi ban hành Bộ luật Hình sự 2015 mỗi thời kỳ đều có những quy định khác nhau về chuẩn bị phạm tội. Pháp luật hình sự thời kỳ phong kiến Việt Nam ghi nhận sự lưu giữ cho đến ngày nay chỉ còn lại hai bản Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long). Trong cả hai văn bản luật này đều không đưa ra một khái niệm chuẩn bị phạm tội một cách độc lập mà được cụ thể hóa trong điều luật cụ thể, có thể lấy minh chứng cụ thể bằng ví dụ tại Điều 5 Chương Đạo tặc Quyển IV (Điều 415) quy định: “Những kẻ mưu giết người, thì xử tội lưu đi châu gần; đã làm ngư ời ta bị thương thì xử tội lưu đi châu ngoài ; nếu vì bị thương mà chết thì xử tội giảo; đã giết chết thì xử tội chém”… [45]. Có thể suy luận chữ “mưu” trong điều luật đó chính là dự định cho việc sẽ thực hiện một hành vi trái với pháp luật và được hiểu như việc chuẩn bị phạm tội.

Kế thừa tinh thần làm luật của Quốc triều Hình luật, Hoàng Việt Luật lệ cũng quy định cụ thể trong định khung một số tội dưới dạng “mưu”, ví dụ: trong quyển 12 Phần Đạo Tặc Thượng Điều 1 quy định tội mưu phản đại nghịch, Điều 2 quy định tội mưu phản. Cụ thể, Điều 1 tội mưu phản đại nghịch quy định: “phàm kẻ mưu phản không làm lơ ̣i cho đấ t nư ớc, mưu hại xã tắc và đ ại nghịch không có lơ ̣i đố i v ới vua , mưu phá hủy tôn miếu, sơn lăng và cung quy ết” [25]. Mặc dù, trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ chưa đưa ra khái niệm chuẩn bị phạm tội nhưng đã chỉ ra được hình thức chuẩn bị phạm tội bằng cách quy định việc “mưu” phạm tội thành các tội phạm cụ thể. Pháp luật Hình sự Việt Nam hiện đại kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa rồi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định 14 z giai đoạn chuẩn bị phạm tội trong cả 3 văn bản Bộ luật Hình sự một cách độc lập thành một định nghĩa riêng.

Trong Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1985 ghi nhận về khái niệm chuẩn bị phạm tội tại Điều 15 “là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiê ̣n hoặc tạo ra những điều kiê ̣n cần thiết khác để thực hiê ̣n tội phạm”. Kế thừa và phát huy Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định tại điều 17: “Chuẩn bị phạm tội là tìm ki ếm, sửa soạn công cụ, phương tiê ̣n hoặc tạo ra những điều kiê ̣n cần thiết khác đ ể thực hiê ̣n t ội phạm”. Và đến Bộ luật Hình sự 2015 thì được quy định một cách chi tiết và cụ thể hơn: 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Chuẩn Bị Phạm Tội và Phạm Tội Chưa Đạt Trong Luật Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khái niệm pháp lý liên quan đến chuẩn bị phạm tội và các hành vi chưa đạt trong bối cảnh luật hình sự Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố cấu thành của tội phạm, cũng như những khác biệt giữa các giai đoạn chuẩn bị và thực hiện tội phạm. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức trong việc áp dụng chúng trong thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn toà án nhân dân thành phố hà nội, nơi phân tích cách thức áp dụng pháp luật trong các vụ án cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về quy trình pháp lý trong các vụ án dân sự, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam.