CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY NGŨ SẮC 1.1 KHÁI QUÁT [2] + Tên khoa học: Lantana camara L. + Họ: roi ngựa (Verbenaceae). + Tên thường gọi là ngũ sắc, trâm ổi, bông ổi, ổi nho, trâm anh, mã anh đơn, nhá khí mu (Tày). + Tên tiếng Anh: Lantana wild sage, tick berry.
+ Tên tiếng Pháp: bois de sauge, lantanier.2 MÔ TẢ CÂY [3] Ngũ sắc là loài cây nhỏ, cây cao từ 1,5-2 mét, hay có thể hơn một chút, thường mọc thành bụi và mọc hoang dại nhiều cành ngang, có lông và gai ngắn quặp về phía dưới. Thân có gai, cành dài hình vuông có gai ngắn và lông ráp. Lá cây có mùi thơm của ổi nên còn gọi là trâm ổi, bông ổi hay thơm ổi. Lá hình bầu dục, nhọn, mặt lá xù xì, mép lá có răng cưa, mặt trên có lông ngắn cứng, mặt dưới lông mềm hơn, mọc đối, phiến lá dài 3-9 cm, rộng 3-6 cm, cuống lá ngắn.
Hoa có nhiều màu sắc nên được dân gian đặt tên là hoa ngũ sắc, nhiều giống màu trắng, vàng, vàng cam, tím hay đỏ, nở suốt 4 mùa nên còn gọi là tứ quý hay tứ thời. Hoa không cuống mọc thành bông dạng hình cầu, hoa có lá bắc hình mũi giáo. Quả hạch hình cầu nằm trong lá dài, mọc thành từng chùm, non màu xanh khi chín màu đen.1: Cây ngũ sắc Hình 1.2: Thân, lá ngũ sắc Hình 1.3: Hoa ngũ sắc Hình 1.4: Quả ngũ sắc 1.3 PHÂN BỐ SINH THÁI[3,11] Ngũ sắc, tên khoa học là Lantana camara L., thuộc họ roi ngựa (Verbenaceae). Cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trung, Nam Mỹ.
Năm 1600 các nhà thám hiểm người Hà Lan đã đem vào Hà Lan trồng, từ Brazil đến các quốc gia khác đã mang hạt giống về trồng ở châu Âu, Vương quốc Anh và Bắc Mỹ. Sau khi được trồng ở Hawaii như một giống hoa, cây ngũ sắc nhanh chóng lan rộng ra hòn đảo của Thái Bình Dương, Úc và Nam Á. Theo cách tương tự, từ nó đã nhanh chóng được mọc ở các khu vực ấm hơn của Nam Phi do chim ăn quả và phân bố hạt. Trong thế kỷ 18 và 19 ngũ sắc nhanh được canh tác một cách thươg mại hóa trên toàn thế giới như là một cây cảnh vì màu sắc của hoa.
Cũng vào thế kỷ mười chín, ngũ sắc được trồng làm cảnh ở Việt Nam. Đến nay cây đã phổ biến rộng rãi, mọc hoang ở các bãi đất trống, đồi núi, ven biển.5: Bản đồ phân bố cây ngũ sắc trên thế giới 1.4 Y HỌC DÂN GIAN CỦA NGŨ SẮC Theo kinh nghiệm dân gian, ngũ sắc có những công dụng sau: Lá ngũ sắc chữa táo bón, sốt, làm ra mồ hôi, viêm phế quản, ngày từ 20-30g cây tươi sắc uống. Dùng ngoài đấp vết thương, trị lỡ loét hoặc cầm máu, dùng lá sắc uống trị ghẻ lỡ, hoa trị ho lao, kèm ho ra máu, cao huyết áp[2], người ta còn dùng lá ngũ sắc để đắp lên vết thương trị rắn cắn, cho vào nước xông chữa cảm mạo, sốt[3]. Toàn cây có thể chữa viêm da, mẩn ngứa, chàm.
Lá tươi là thuốc cầm máu, sát khuẩn, chữa lành vết thương. Hoa ngũ sắc chữa ho ra máu, cảm sốt, bệnh ôn nhiệt vào mùa hè, thu. Rễ hoa ngũ sắc kết hợp với các loại vị thuốc khác chữa rắn cắn. Cành, lá và hoa phơi khô, sắc uống thay chè hằng ngày, mỗi ngày 40g, bài thuốc này có tác dụng hổ trợ chữa bệnh tiểu đường.
Tác dụng chữa bệnh của cây ngũ sắc tùy thuộc vào bộ phận dùng làm thuốc: rễ cây có vị ngọt đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt. Lá có tính mát, có tác dụng tiêu viêm sưng, chữa ngứa gãi, rắn cắn. Hoa có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng cầm máu. Lá, hoa và cành hái về phơi khô để dùng làm thuốc chữa bệnh.
Khi cần có thể dùng cả cành lá tươi[11]. Ở nam Trung Quốc, dịch hoa ngũ sắc được dùng để tắm chữa ghẻ. Ở Indonesia, Philippines lá và hoa ngũ sắc giã đắp các vết đứt, lở loét, sưng tấy. Loài cây này đã được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới để điều trị một loạt các chứng rối loạn.
Ngũ sắc sử dụng trong dân gian như một biện pháp khắc phục hậu quả đối với bệnh ung thư, lá và hoa phơi khô uống như trà có thể hổ trợ chữa cúm, sốt và đau dạ dày. Ở Trung và Nam Mỹ, người ta dùng lá tươi nghiền nát đắp lên chỗ sưng để điều trị vết loét, thủy đậu và sởi. Ngoài ra, ngũ sắc còn được sử dụng để chữa sốt, lạnh, hen suyễn và cao huyết áp. Ở Ghana, theo dân gian toàn cây ngũ sắc được dùng để chữa viêm phế quản.
Ở các nước châu Á, lá đã được sử dụng để điều trị vết cắt, loét và như là một loại thuốc sổ giun[11]. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÂY NGŨ SẮC 1.1 TRONG NƯỚC Năm 2007 các tác giả Diệp Thị Mỹ Hạnh và E. Garnier Zarli đã nghiên cứu khả năng hấp thụ Pb trong đất của cây ngũ sắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện ô nhiễm đất đến 4x103 mg kg -1 Pb cây Lantana có thể sống và hấp thu Pb.
Hấp thụ Pb trong hệ rễ của Lantana quan trọng lúc đầu, có sự tương quan tốt giữa nồng độ chì trong đất và lượng chì hấp thụ trong cây Lantana. Nhưng sau đó, Pb được chuyển lên tích lũy trong thân và lá[1]. Năm 2009 các tác giả Nguyễn Văn Đậu, Lê Thị Huyền đã phân lặp được năm triterpenes trong lá của cây ngũ sắc ở Lâm Thao Phú Thọ. Kết quả trong năm triterpens đó có β-sitosterol, sitosterol 3-O-β-D-glucopiranozit còn ba triterpen còn lại là dẫn xuất của axit oleanolic[5].2 NGOÀI NƯỚC Năm 2008 ở tạp chí International Journal of Applied Research in Natural Products cho thấy các tác giả ở vùng Trinidad và Tobago là Nayak BS, Raju SS, Ramsubhag A đã nghiên cứu khả năng chữa lành vết thương bỏng trên chuột.
Các tác giả đã cho chuột hấp thụ một lượng nhất định phần chiết ethanol của bột lá ngũ sắc khô. Kết quả là sau 19 ngày là vết bỏng trên chuột đã lành lại 87% so với khả năng tự lành thông thường là 82% qua kết quả phân tích ANOVA. Từ đó các tác giả đã kết luận lá ngũ sắc có khả năng chữa lành vết thương trên chuột[21]. Năm 2008, các tác giả người Ấn Độ là M.
Sathish Kumar và S. Maneemegalai đã đánh giá khả năng diệt ấu trùng của hai loài muỗi Aedes aegypti (tác nhân gây bệnh sốt vàng da) và Culex quinquefasciatus (tác nhân gây bệnh viêm não nhật bản) từ phần chiếc ethanol, methanol của lá và hoa ngũ sắc. Ấu trùng của hai loài muỗi này mới nở sau bảy ngày được hấp thu một lượng chiết nhất định từ lá và hoa của loài cây này. Sau 24 giờ số lượng ấu trùng chết đi được ghi lại và tính toán tỷ lệ phần trăm tử vong.
Từ kết quả thực nghiệm đó, hai nhà khoa học đã kết luận phần chiết xuất từ lá và hoa của ngũ sắc có khả năng diệt ấu trùng của hai loài muỗi này[19]. Năm 2009, cũng nhóm tác giả người Ấn Độ là Deepak Ganjewala, Silviya Sam, Kishwar Hayat Khan, nghiên cứu khả năng chống các loại vi khuẩn Bacillus subtillis, Escherichia coli (gây bệnh dịch tả), Staphylococcusaureus, Pseudomonas aeruginosa. Kết quả cho thấy chất từ dịch chiết lá trong ethyl acetate là hiệu quả nhất trong việc chống lại một số vi khuẩn. Chiết xuất trong acetone và chloroform không có thành phần quan trọng tác dụng ức chế chống lại các vi khuẩn trên[10].
Tháng 10 năm 2010, ở tạp International Journal of Plant Physiology and Biochemistry, các tác giả người Nigeria đã nghiên cứu và kết luận được rằng các chất trong phần chiết ethanol, ethylacetate của cây ngũ sắc có khả năng ổn định màng tế bào hồng cầu trong máu ở trâu bò[22]. Năm 2010, các tác giả ở Brazil là Erlânio O. Lima và José Galberto M. Costa đã nghiên cứu sự thay đổi thành phần hóa học trong tinh dầu của lá ngũ sắc ở vùng Đông Bắc Brazil do thời điểm thu hái lá khác nhau trong một ngày[12].
Năm 2011, ở tạp chí Journal of Pharmacy Research các tác giả người Ấn Độ đã nghiên cứu các con chuột sau khi bị gây bệnh tiểu đường bằng cách hấp thụ streptozotocin, sau 21 ngày được hấp thụ một lượng nhất định phần chiết từ quả của cây ngũ sắc, bằng phương nghiên cứu mô bệnh học ở tế bào gan chuột, phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) có thể kết luận phần chiết từ quả cây ngũ sắc có hoạt tính chống tiểu đường[26]. Năm 2011, nhóm các tác giả cũng người Ấn Độ gồm Jitendra Patel, G.P, Deepika S, Md Shamim Qureshi đã nghiên cứu hoạt tính chống giun từ phần chiết ethanol của lá ngũ sắc. Bằng chứng thực nghiệm thu được trong mô hình phòng thí nghiệm có thể chứng minh cho việc các bộ lạc truyền thống cũng đã dùng loài cây này để chống giun trong việc điều trị bệnh nhiễm trùng đường ruột do giun[16]. THÀNH PHẦN HÓA HỌC Thành phần hóa học của họ Lantana rất phong phú và đa dạng, cho đến nay người ta đã cô lập được khoảng gần hai trăm chất hữu cơ từ họ Lantana.
Sau đây là một số chất đã được phân lập từ cây ngũ sắc (Lantana camara. Có trong thành phần của tinh dầu, cấu trúc hóa học của các hợp chất tự nhiên sesquiterpene có thể là mạch hở, 1, 2, 3 hoặc 4 vòng với 80 khung sườn cacbon cơ bản chính. 2 14 14 3 1 9 1 10 2 8 4 10 9 5 5 7 12 15 3 11 6 11 12 4 6 8 H 7 15 13 13 Guaian Eudesman Một số sesquiterpene có trong tinh dầu ngũ sắc [15]: Germacrene D β – elemene 1-β-bisabolene Triterpene[6] Triterpene (C 30 H 48 ) được phân bố rộng rãi trong giới động vật và thực vật, hiện diện ở dạng tự do hoặc glycoside. Cấu trúc hóa học của triterpenes có thể là mạch hở, 3, 4 hoặc 5 vòng với 33 khung sườn cacbon cơ bản chính.