CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan chung về in 3D Khái niệm In 3D (Three-Dimensional Printing) là một chuỗi kết hợp các công đoạn khác nhau để tạo ra một vật thể ba chiều có cấu trúc và hình dạng phức tạp từ mô hình dữ liệu ba chiều. Trong in 3D, các lớp vật liệu được xếp chồng lên nhau và được định dạng dưới sự kiểm soát của máy tính để tạo ra vật thể. Các đối tượng này có thể có hình dạng bất kỳ, và được tạo ra từ một mô hình 3D.
Không giống một quy trình gia công loại bỏ vật liệu thông thường, in 3D sản xuất đắp dần một đối tượng ba chiều từ mô hình thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính (CAD), thường bằng cách thêm vật liệu theo từng lớp, do đó ít tốn kém vật liệu hơn so với phương pháp thông thường [1]. Công nghệ in 3D được biết đến vào cuối những năm 1980, với cái tên là công nghệ Rapid Prototyping (RP). Bởi vì các quy trình ban đầu được hình thành như là một phương pháp tạo mẫu nhanh để giảm chi phí và thời gian sản xuất. Năm 1984, Charles Hull đã được cấp bằng sáng chế cho công nghệ in 3D Stereolithography (SLA).
Hệ thống 3D thương mại đầu tiên với công nghệ RP, SLA-1, được giới thiệu vào năm 1987 và hệ thống này đã được bán vào năm 1988. Năm 1995, Z Corporation một công ty làm nhanh nguyên mẫu có được bản quyền đặc biệt của Học viện công nghệ Massachusetts về sử dụng công nghệ in 3D và bắt đầu phát triển các máy in. Trải qua hơn 20 năm phát triển, năm 2008 những chiếc máy in 3D mã nguồn mở RepRap là viết tắt của Replicating Rapid-prototyper được đưa ra thị trường. Phần lớn máy RepRap có thể dùng máy này để in ra gần 60% các bộ phận của nó, từ đó máy in 3D trở nên phổ biến, giá thành rẻ.
Từ đó đến nay, rất nhiều cải tiến được thêm vào máy in nhằm giảm chi phí và tăng khả năng ứng dụng của in 3D, chẳng hạn như: tăng tốc độ in, giảm giá thành dịch vụ in 3D, nhiều đột phá mới trong công nghệ vật liệu in 3D và y học…. Các công nghệ in 3D phổ biến Tên gọi của công nghệ in 3D thường dựa trên nguyên lý hoạt động của nó. Một số công nghệ cơ bản như: Công nghệ khắc hình lập thể SLA (Stereolithogaraphy) Công nghệ lắng đọng hợp nhất FDM (Fused Deposition Modeling) Công nghệ laser thiêu kết chọn lọc SLS (Selective Laser Sintering) Công nghệ laser nóng chảy chọn lọc SLM (Selective Laser Melting) Công nghệ Material Jetting (MJ) Một số công nghệ khác… Công nghệ in 3D đang ngày càng phát triển, không chỉ giúp cho việc chế tạo khuôn mẫu được chính xác và dễ dàng hơn mà còn tìm được nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống. Công nghệ in 3D đang được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực công nghiệp sản xuất chế tạo, y khoa, kiến trúc, xây dựng.
10 Vật liệu sử dụng trong công nghệ in 3D FDM Vật liệu in 3D trên thị trường hiện nay có thể chia thành một số nhóm chính như: Nhựa, Kim loại, các hợp chất vô cơ. Vật liệu nhựa trong in 3D tồn tại ở 3 dạng chính: dạng sợi (thường sử dụng cho công nghệ FDM), dạng bột (thường sử dụng trong công nghệ SLS), dạng lỏng (thường sử dụng trong công nghệ SLA, DLP). Một số kim loại được dùng phổ biến trong công nghệ in 3D là: đồng, nhôm, titan, thép không gỉ, bạc, vàng. dưới dạng bột hoặc dạng tấm tùy thuộc vào công nghệ được sử dụng.2 Công nghệ in 3D FDM Cấu tạo, nguyên lý hoạt dộng của công nghệ in 3D FDM Hiện nay trên thị trường Việt Nam thì công nghệ FDM là công nghệ phổ biến nhất do tính an toàn, dễ sử dụng, dễ tác động và đặc biệt là giá thành hợp lý của nó.
Đây cũng là công nghệ mà nhóm đã sử dụng trong nghiên cứu này. Fused Deposition Modeling (FDM), hay Fused Filament Fabrication (FFF), là một quy trình sản xuất đắp dần thuộc họ ép đùn vật liệu. Trong FDM, một sản phẩm được tạo thành bằng cách lắng đọng có chọn lọc vật liệu nóng chảy theo từng lớp. Vật liệu được sử dụng thường là polyme nhiệt dẻo và có dạng sợi.1 Mô hình nguyên lý công nghệ in 3D FDM: 1 vòi phun, 2 vật liệu, 3 bàn in Nguyên lý hoạt động: Trước hết, một ống sợi nhựa nhiệt dẻo được đưa vào máy in.
Khi vòi phun đã đạt đến nhiệt độ mong muốn, sợi nhựa được đưa đến đầu đùn và trong vòi phun nơi nó được nóng chảy. Đầu đùn được gắn vào hệ thống 3 trục cho phép nó di chuyển theo các hướng X, Y và Z. Các vật liệu nóng chảy được đùn và lắng đọng theo từng lớp ở các vị trí được xác định trước sau đó nguội đi và đông cứng lại. Việc làm mát vật liệu thông qua việc sử dụng quạt làm mát gắn trên đầu đùn.
Khi một lớp kết thúc, bàn in di chuyển xuống (hoặc trong các thiết lập máy khác, đầu đùn di chuyển lên) và một lớp mới được lắng đọng. Quá trình này được lặp lại cho đến khi sản phẩm hoàn thành. Đặc điểm của máy FDM: Hầu hết các hệ thống FDM cho phép điều chỉnh một số tham số quy trình, bao gồm nhiệt độ của cả vòi phun và bàn in, tốc độ bàn in, chiều cao lớp và tốc độ của quạt tản nhiệt. Chúng thường được đặt bởi người vận hành, vì vậy nên ít được quan tâm với người thiết kế.
11 Kích thước bàn in và chiều dày lớp : Kích thước bàn in có sẵn của máy in 3D để bàn thường là 200 x 200 x 200 mm, trong khi đối với máy công nghiệp, nó có thể lớn tới 1000 x 1000 x 1000 mm. Nếu một máy để bàn được chọn (ví dụ để giảm chi phí), một mô hình lớn có thể được chia thành các chi tiết nhỏ hơn và sau đó được lắp ráp Chiều dày lớp điển hình được sử dụng trong FDM thay đổi trong khoảng từ 50 đến 400 micron và có thể được xác định ngay khi đặt chế độ in. Một chiều dày lớp nhỏ hơn tạo ra các chi tiết mịn hơn và bắt đường cong chính xác hơn, trong khi chiều dày lớn hơn tạo ra các chi tiết nhanh hơn và với chi phí thấp hơn. Một chiều dày lớp 200 micron được sử dụng phổ biến nhất.
Bám dính và cong vênh: Cong vênh là một trong những khiếm khuyết phổ biến nhất trong FDM. Khi vật liệu ép đùn nguội đi trong quá trình hóa rắn, kích thước của nó giảm xuống. Khi các phần khác nhau của bản in nguội ở các tốc độ khác nhau, kích thước của chúng cũng thay đổi ở các tốc độ khác nhau. Sự nguội khác biệt gây ra sự tích tụ của các ứng suất bên trong kéo lớp bên dưới lên trên, làm cho nó bị cong vênh.
Độ bám dính tốt giữa các lớp lắng đọng là rất quan trọng đối với một chi tiết FDM. Khi nhựa nhiệt dẻo nóng chảy được đùn qua vòi phun, nó được ép vào lớp trước. Nhiệt độ cao và áp suất làm tan chảy bề mặt của lớp trước và cho phép liên kết lớp mới với phần được in trước đó. Độ bền liên kết giữa các lớp khác nhau luôn thấp hơn độ bền cơ bản của vật liệu.
Hơn nữa, vì vật liệu nóng chảy được ép vào lớp trước, hình dạng của nó bị biến dạng thành hình bầu dục. Điều này có nghĩa rằng chi tiết FDM sẽ luôn luôn có một bề mặt gợn sóng , ngay cả đối với bề dày lớp thấp, và những đường bao nhỏ, chẳng hạn như các lỗ nhỏ hoặc mạch có thể cần phải được bài xử lý sau in. Cấu trúc hỗ trợ: Cấu trúc hỗ trợ là điều cần thiết để tạo hình với phần nhô ra trong FDM. Nhựa nhiệt dẻo nóng chảy không thể lắng đọng trên không khí.
Vì lý do này, một số hình học yêu cầu cấu trúc hỗ trợ. Các bề mặt được in trên cấu trúc hỗ trợ nói chung thường có chất lượng bề mặt thấp hơn các phần còn lại của chi tiết. Vì lý do này, các chi tiết được thiết kế theo cách mà để giảm thiểu nhu cầu phải dùng cấu trúc hỗ trợ. Độ điền đầy và độ dày lớp viền: Các chi tiết FDM thường không được in đặc để giảm thời gian in và tiết kiệm vật liệu.
Thay vào đó, chu vi bên ngoài được xác lập bằng cách sử dụng một số đường chuyền, được gọi là viền và bên trong được lấp đầy bằng một cấu trúc mật độ thấp bên trong, được gọi là độ điền đầy. Độ điền đầy và độ dày viền ảnh hưởng rất lớn đến độ bền của chi tiết. Đối với máy in FDM để bàn, cài đặt mặc định là mật độ lấp đầy 25% và độ dày viền 1 mm, đây là sự hài hòa tốt giữa cường độ và tốc độ để in nhanh. Ưu điểm: FDM là cách hiệu quả nhất để sản xuất các chi tiết và mẫu từ nhựa nhiệt dẻo 12 Thời gian in nhanh chóng Vật liệu sử dụng cho FDM dễ kiếm trên thị trường và được ứng dụng rộng rãi Nhược điểm: Có độ chính xác và độ phân giải thấp so với các công nghệ in 3D khác, vì vậy nó không phù hợp với các bộ phận có chi tiết quá phức tạp Các chi tiết cần xử lý sau in để hoàn thiện sản phẩm Do vật liệu sử dụng là nhựa và composite nền nhựa nên vùng nhiệt độ sử dụng giới hạn.
Vật liệu sử dụng trong công nghệ in 3D FDM Công nghệ FDM (fused deposition modeling) là một công nghệ phổ biến trên thế giới được sử dụng để mô hình hóa và chế tạo sản phẩm, đặc biệt phù hợp với những người mới tìm hiểu về in 3D vì giá thành hợp lý, dễ tiếp cận và có độ phân giải tương đối tốt. Hiện nay, các loại vật liệu nhựa nhiệt dẻo như ABS (Acrylonitrile Butadiene Styrene), PLA (axit polylactic), PA (polyamide), PP (Polypropylene). được sử dụng cho công nghệ FDM. Tuy nhiên, các sản phẩm in bằng những vật liệu này vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được về độ bền cơ học, chịu tải,.
do tính chất vốn có của polyme, vì vậy hạn chế trong việc ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp chế tạo [1] [2]. In 3D sử dụng vật liệu tổng hợp polyme khắc phục những vấn đề này bằng cách kết hợp cốt sợi, cốt hạt vào nền polyme nhằm đạt được những vật liệu có tính chất, cấu trúc tăng cường so với vật liệu nguyên chất [3].