Chương I. Tổng quan: Giới thiệu về tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về lĩnh vực vật liệu oxit kim loại bán dẫn và cảm biến khí. Khái quát các phương pháp chế tạo của Fe2O3, CuO, ZnO và tổ hợp của chúng, tập trung vào phương pháp phản ứng dung dịch, phương pháp thủy nhiệt, phương pháp oxi hóa dung dịch và ứng dụng vật liệu làm cảm biến khí. Từ đó đưa ra hướng nghiên cứu của đề tài luận án.
- Chương II: Chế tạo, hình thái, cấu trúc vật liệu Fe2O3, ZnO, CuO: Trình bày chi tiết về quy trình thực nghiệm và kết quả chế tạo vật liệu cấu trúc nano đa hình thái gồm α-Fe2O3 (dạng thanh, tấm, con suốt và hoa micro), ZnO (dạng hạt, thanh và tấm), CuO (dạng lá, hoa micro, hạt, tấm và vách). Trên cơ sở các vật liệu thuần, phương pháp chế tạo vật liệu tổ hợp Fe2O3/ZnO, CuO/ZnO, CuO/Fe2O3 và các kết quả hình 16 thái, thành phần cũng được làm rõ. - Chương III. Đặc trưng nhạy khí của các vật liệu thuần: Khảo sát tính chất nhạy khí của các vật liệu thuần α-Fe2O3, ZnO, CuO có các hình thái khác nhau với bốn loại khí thử gồm NH3, C2H5OH, CH3COCH3 và LPG, trong đó chỉ rõ độ đáp ứng với một nồng độ khí nhất định, nhiệt độ làm việc tối ưu, tính tuyến tính trong quan hệ giữa độ đáp ứng và nồng độ khí thử, độ nhạy, khả năng chọn lọc với một loại khí thử trong sự có mặt các khí nhiễu khác và độ lặp lại với các chu kì khí thử.
Cơ chế nhạy khí và mối quan hệ giữa kích thước, hình thái và bản chất vật liệu với khí thử và độ nhạy khí cũng được thảo luận. - Chương IV. Đặc trưng nhạy khí của vật liệu tổ hợp: Năm tổ hợp hai thành phần gồm thanh Fe2O3/hạt ZnO, lá CuO/tấm ZnO, hạt CuO/tấm Fe2O3, hoa CuO/con suốt Fe2O3 và tấm ZnO/thanh Fe2O3 đã được khảo sát nhạy khí với NH3, C2H5OH, CH3COCH3, LPG để chỉ ra tỉ lệ khối lượng giữa hai thành phần phù hợp cho độ đáp ứng cao nhất, so sánh với các vật liệu thuần tương ứng cho thấy khả năng cải thiện đặc tính nhạy khí như giảm nhiệt độ làm việc, cải thiện độ nhạy, độ ổn định, tính chọn lọc, độ tuyến tính. Ngoài các chương chính trên còn có phần kết luận, những đóng góp mới của NCS cho khoa học và thực tiễn, những công bố khoa học trong nước, quốc tế trong thời gian làm NCS.
Trên cơ sở các thiết bị nghiên cứu hiện có tại phòng thí nghiệm của Viện Vật lý kỹ thuật, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, định hướng đề tài của luận án này là: Nghiên cứu tính chất nhạy khí của hệ vật liệu Fe2O3, CuO và ZnO có cấu trúc thấp chiều. Vật liệu oxit kim loại bán dẫn và cảm biến khí 1. Vật liệu oxit kim loại bán dẫn cấu trúc nano Hệ thống vĩ mô (macrosystem) là hệ thống có kích thước từ khoảng 1 mm đến các vật thể rất lớn, sự vận động tương tác của chúng tuân theo cơ học cổ điển Newton. Hệ thống vi mô (microsystem) là hệ thống có kích thước nguyên tử và hạt cơ bản, cỡ 10 Å trở xuống, sự vận động và tương tác của chúng tuân theo cơ học lượng tử.
Hệ thống trung gian (mesoscopic system) có kích thước từ 1 nm đến 100 nm gọi là miền kích thước nano. Tính chất của hệ thống này phụ thuộc vào kích thước của đối tượng, nó có thể tuân theo định luật cổ điển khi kích thước đủ lớn, khi kích thước nhỏ dần thì các hiệu ứng lượng tử càng nổi trội, các hiệu ứng bề mặt trở nên quan trọng, chứa đựng nhiều đặc tính chuyển tiếp mang tính hai mặt của hệ vĩ mô và vi mô. Đối với vật liệu màng mỏng, kích thước nano là chiều dày màng. Đối với vật liệu dạng hạt thì kích thước nano là đường kính hạt.
Đối với linh kiện điện tử thì kích thước nano là kích thước miền tích cực của linh kiện, ví dụ chiều dày lớp oxit ở cực cửa của MOSFET chứ không phải kích thước cả linh kiện. Khi giảm kích thước vật liệu xuống thang nanomet đến kích thước tới hạn thì một số hiệu ứng lượng tử xuất hiện mà không cần thay đổi thành phần hóa học, các đặc tính cơ, nhiệt, điện, quang, màu sắc, nhiệt độ nóng chảy, đặc tính quang xúc tác… thay đổi. Tỉ số giữa bề mặt và thể tích khối tăng lên, các hiệu ứng bề mặt chiếm ưu thế, các tương tác hóa học, khả năng hoạt hóa tăng lên. Kích thước tới hạn là kích thước mà ở đó tính chất cổ điển của vật liệu khối chuyển sang tính chất lượng tử của vật liệu nano.
Các tính chất vật lí như tính chất điện, tính chất từ, tính chất quang và các tính chất hóa học đều phụ thuộc vào kích thước. Khi kích thước vật liệu giảm đến thang nano thì xuất hiện những hiệu ứng mới mà ở dạng khối không có được. Chẳng hạn hiệu ứng đường hầm: điện tử có thể chuyển động xuyên qua một lớp cách điện. Chip điện tử có mật độ cao các phần tử kích thước nano có tốc độ hoạt động nhanh, số điện tử tham gia dẫn điện ít hơn, mất ít năng lượng hơn transistor thông thường.
Những tính chất căn bản của vật chất như độ dẫn điện của kim loại, nhiệt độ nóng chảy, từ tính, từ trễ, bề rộng vùng cấm trong chất bán dẫn, từ độ bão hòa của vật liệu sắt từ… không đổi khi kích thước vật đủ lớn, nhưng khi kích thước giảm xuống đến thang nanomet thì chúng sẽ thay đổi theo kích thước. Từ đó, ta có thể thay đổi tính chất của vật chất bằng cách thay đổi thành phần hóa học các cấu tử và hình dạng, kích thước của vật chất. Khi làm thay đổi cấu hình ở thang nano của vật liệu, ta có thể điều khiển được các tính chất của vật liệu mà không cần thay đổi thành phần hóa học. Ví dụ: thay đổi kích thước hạt nano sẽ làm thay đổi màu ánh sáng phát ra.
Vật liệu nano là vật liệu có ít nhất một chiều không gian có kích thước dưới 100 nm. Vật liệu nano không chiều (0D) có cả ba chiều đều có kích thước nano như đám nano (nanocluster), hạt nano (nanoparticle), khối nano (nanocube). Vật liệu nano 18 một chiều (1D) có hai chiều kích thước nano, các hạt tải điện chỉ truyền dẫn theo một chiều không gian gồm dây nano (nanowire), ống nano (nanotube), thanh nano (nanorod) [2]. Vật liệu nano hai chiều (2D) có một chiều kích thước nano, hạt tải điện chuyển động tự do trong một mặt phẳng, chỉ bị hạn chế theo phương vuông góc với mặt phẳng đó như màng mỏng (thin film), lá nano (nanosheet), tấm nano (nanoplate).
Các đơn vị cấu trúc nano này có thể liên kết với nhau thành cấu trúc phân cấp (hierarchical) phức tạp hơn như hình lược (comb-type), hình cây (dendrite), hình con nhím (urchin-like), hình cuộn chỉ (thread), hình hoa (flower-like)… (Hình 1. Các hình thái của vật liệu cấu trúc nano [3]. Các vật liệu nano chủ yếu được chế tạo bằng phương pháp từ dưới lên (bottom-up) tức là hình thành cấu trúc nano từ các nguyên tử, phân tử hoặc ion, có thể là phương pháp vật lí, hóa học hoặc kết hợp lí-hóa. Phương pháp vật lí là phương pháp tạo vật liệu từ các nguyên tử gồm bốc bay nhiệt (phún xạ - sputtering, phóng điện hồ quang) và phương pháp chuyển pha (vật liệu được nung nóng rồi cho nguội nhanh để thu được trạng thái vô định hình, sau đó xử lí nhiệt để xảy ra chuyển pha vô định hình – tinh thể.
Phương pháp hóa học là phương pháp tạo vật liệu từ các ion gồm phương pháp hình thành vật liệu nano từ pha lỏng (phương pháp kết tủa, sol-gel, thủy nhiệt, nhiệt dung môi) và từ pha khí (nhiệt phân). Phương pháp kết hợp lí-hóa gồm điện phân, ngưng tụ từ pha khí. Cảm biến khí bán dẫn Cảm biến khí là thiết bị dùng để xác định loại khí và nồng độ khí trong một hỗn hợp khí, nồng độ khí được chuyển đổi sang tín hiệu điện dạng điện áp hoặc điện trở của màng nhạy khí trong cảm biến. Khi tương tác với khí thử, nồng độ hạt tải điện trên lớp bề mặt màng nhạy thay đổi dẫn đến điện trở lớp nhạy có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy thuộc vào bản chất vật liệu nhạy khí (bán dẫn loại n hay loại p) và bản chất khí thử (tính oxi hóa hay tính khử).
Cảm biến khí được ứng dụng rộng rãi trong đời sống và kĩ thuật như quan trắc ô nhiễm môi trường không khí, sản xuất công nghiệp, chẩn đoán bệnh trong y học, bảo quản thực phẩm, nghiên cứu vũ trụ, giao thông vận tải, trồng trọt – chăn nuôi và an ninh quốc phòng… Trong y học, sử dụng cảm biến khí để đo thành phần khí trong hơi thở bệnh nhân, từ đó chẩn đoán bệnh về răng miệng, dạ dày, phổi… Trong phòng chống cháy nổ, cảm biến khí có thể phát hiện sự rò rỉ xăng dầu, rò rỉ khí gas, phát hiện khí ozon (O3), khói (CO2, SO2 … có trong sản phẩm cháy) để cảnh báo sớm nguy cơ cháy nổ. Trong công nghiệp ôtô, cảm biến khí giúp kiểm soát khí thải, đánh giá hiệu suất sử dụng nhiên liệu của động cơ. Trong công nghiệp thực phẩm, cảm biến khí giúp đánh giá quá trình lên men thông qua đo nồng độ các khí C2H5OH và CO2. Trong an toàn giao thông, cảm biến khí đo nồng độ cồn trong hơi thở của người điều khiển phương tiện giao thông.
Trong dự báo thời tiết, cảm biến khí giúp đo độ ẩm tương đối, khí cần đo là hơi nước (H2O)… Cấu tạo cảm biến khí gồm một lớp vật liệu nhạy khí làm bằng vật liệu oxit kim loại, polime dẫn (như polyaniline, polypyrrole…), ống nano cacbon (carbon nanotube, CNT) hoặc tổ hợp của chúng được phủ trên một điện cực dẫn điện, bền hóa, bền nhiệt như Pt, Ni, Au, Ag… gắn trên đế cách điện như Si/SiO2 hoặc Al/Al2O3 bằng công nghệ quang khắc vi điện tử. Các oxit kim loại có tính bán dẫn gọi là MOS (metal oxide semiconductor) được sử dụng rộng rãi làm vật liệu nhạy khí nhờ những ưu điểm vượt trội so với vật liệu polime dẫn hoặc ống nano cacbon: độ nhạy cao, bền nhiệt, bền hóa, bền cơ học, đáp ứng và hồi phục nhanh, dễ chế tạo, giá thành hạ. Tuy nhiên, cảm biến khí oxit kim loại bán dẫn làm việc ở nhiệt độ cao, tính chọc lọc kém do nhạy với nhiều loại khí khác nhau, phụ thuộc vào độ ẩm môi trường và cần có oxi khí quyển để hoạt động.