CHƯƠNG 1. Tổng quan về vật liệu perovskite ABO; 1. Tổng quan về vật liệu nano perovskite ABX: Năm 1839, nha địa chat Gustav Rose đã phát hiện ra khoáng chat calcium titanate CaTiOs (có hình ảnh và cấu trúc tinh thé như Hình 1.1) ở day núi Ural và đặt tên là perovskite để nhớ ơn Bá tước Lev Alexevich von Perovski (1792 — 1856) — một nhà khoáng vật học lỗi lạc người Nga thời bấy giờ (Hình 1. = Gustay Rose Lev Alexevich von Perovski Hinh 1.
Nha dia chat G. Rose va Nha khoáng vật học L. Từ đó, perovskite là tên gọi chung cho các hợp chất có công thức ABX¿, trong đó A, B là hai loại cation có kích thước khác nhau: A có bán kính lớn hơn B va A là một trong các nguyên tô đất hiếm thuộc họ Lanthanide như Y, La, Pr, Nd, Eu, Ho,. hay kim loại kiềm thé như Ca, Sr, Ba,.
; B là các kim loại chuyên tiếp thuộc họ d như Mn, Fe, Co, Ni, Ti,. ; X là một loại anion (O*, Cl, Br, F hoặc S*,. Sự sắp xếp lí tưởng của một perovskite dan đến sự hình thành cau trúc lập phương như trong Hình 1.3 (a): các nguyên tử A ở trung tâm cả khối, các nguyên tử B ở các góc của 6 đơn vị và các nguyên tử X ở giữa các cạnh. Nếu các ion không phù hợp với yêu cầu kích thước tương đối, cấu trúc khối có thê bị biên dạng đến các phiên bản đối xứng thấp hơn, chủ yếu là trực thoi như Hình 1.
Cau trúc perovskite ABX: với cấu trúc lập phương lí tưởng (a) va cầu trúc trực thoi (b) [37]. Vỏ Trai Dat chứa nhiều loại perovskite khác nhau là halide perovskite và oxide perovskite [38]. Với anion X là O* ta có họ oxide perovskite ABO: bao gồm oxide kim loại chuyền tiếp [13]. Oxide perovskite là một trong những nhóm vật liệu nôi tiếng nhất trong lĩnh vực hóa học vô co, thẻ hiện cau trúc tinh thé tương đối ôn định, các giai đoạn sắt từ khác nhau, tính chất điện tử kì lạ và hoạt động xúc tác cao [39].
Cau trúc ABOs lí tưởng Có nhiều cách mô ta khác nhau về cấu trúc lí tưởng của oxide perovskite. Hợp chất ABO: lí tưởng có cau trúc 6 mạng cơ sở dạng lập phương tâm khối. trong đó có các thông số mạng như sau: a= b = e và œ = B = y = 90°, thuộc nhóm không gian Pbnm. Hai loại cation A, B và vị trí của chúng đã được giới thiệu ở phần ABX:.4a, vị tri 8 đỉnh của hình lập phương là vị trí của lon A, tâm của 6 mặt hình lập phương là vị trí của ion O* và tâm của hình lập phương là vị trí của ion B.
Điều đó có nghĩa là xung quanh cation B có 8 cation A và 6 anion O*, xung quanh cation A có 12 anion O*. Ngoài ra, tinh the ABO; còn được mô tả dưới dang các bát diện BOs, trong đó cation B nằm ở hốc bát điện, các anion O* nằm ở đỉnh của bát điện như Hình 1. Góc liên kết B - O - B là a= 180° va độ dài liên kết B — O giữa các ion đương B và ion phối trí bằng nhau theo mọi phương. Bát điện BOs này ảnh hưởng rất nhiều đến các tính chất như nhiệt, điện, từ và quang của vật liệu [ 13].
Cấu trúc perovskite lí tưởng thường giả định là khối trong tự nhiên. Tuy nhiền, cau trúc tinh thê bị lệch từ cau trúc đối xứng lập phương do nhiều lí do khác nhau, chang hạn như sự biến đổi trong phương pháp tong hợp. thời gian dừng, bán kính ion,. [40] tạo ra các perovskite ABO; biến tính khác nhau.
Cấu trúc ABO: biến tính Vật liệu ABOs biến tinh là vật liệu có ion A hoặc B được thay thé một phan bởi các ion khác. có thê viết dưới dạng công thức tông quát: (AixA's)(Bì. Khi đó, cấu trúc tinh thê có thé thay đôi từ lập phương sang các dạng khác như trực thoi, mặt thoi hay lục phương với hình thức giống như việc mạng tinh thé bị bóp méo đi (Hình 1. Khi đó góc liên kết B - O - B là a 4 180°.
Sự thay thế một phần của các cation kim loại khác vào vị trí của A hoặc B trong mang perovskite ABOs có thé dẫn đến trạng thái oxi hóa hỗn hợp của các cation, dẫn đến biến dang cau trúc, do đó làm thay đôi tính chất của vật liệu cơ bản ABO; [35, 41-44]. Điều này mở ra nhiều ứng dụng của các loại vật liệu đó trong công nghệ hiện đại như quang xúc tác, cảm biến khí, vật liệu quang, vật liệu từ và vật liệu điện cực,. Nói chung, tat cả các biến dạng perovskite ABO; do sự điều phối oxygen ở vị trí A và B thông qua việc nghiêng của khối bát diện BOs và một chuyên vị liên quan của cation A [I3]. =) hoặc @® Cation Á & Cation B w Anion O* Hình 1.
Các dạng ô đơn vị của tỉnh thể perovskite [13]. Hiện tượng cau trúc tinh thé của perovskite bị biến dang khi pha tạp được gọi là méo mang Jahn — Teller. Định lí Jahn — Teller dự đoán rằng khi pha tạp sẽ xay ra sự biến dang hình học của khối bát điện lí tưởng [47]. Hiện tượng méo mạng có ảnh hưởng rat lớn đến cường độ của các tương tác, đặc biệt là tương tác trao đôi kép.
Do đó, nó ảnh hưởng rất mạnh lên các tính chất vật lí của các vật liệu perovskite. Hiệu ứng Jahn-Teller đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích tính chat từ, tính chat dẫn điện của vật liệu perovskite. Đối với cau trúc perovskite, ti lệ hình học được sử dụng pho biến nhất và thành công nhất là hệ số dung sai Goldschmidt t, được xác định bằng công thức sau [48, 49], trong đó ra, rp và ro lần lượt là bán kính ion của A, B và O trong ABO:: TA +To = V2 x (rg+ To) (1. Dựa vào t, ta đánh giá liệu kích thước cation A có vừa với các lỗ trong trong khung BOs hay không.
Giá trị thấp của hệ số dung sai sẽ làm giảm tỉnh đối xứng của kết cau tinh thé [49]. Các giá trị cần chú ý của hệ số t: © t<0,71: kích thước cation A quá nhỏ, ta có cau trúc ilmenite: FeTiOa. © 0,71 <t < 0,9: ta có cau trúc orthorhombic: CaTiO:, ¢ t=1: có sự phù hợp hoàn hao, cau trúc perovskite lập phương lí tưởng: SrTiOs. Tuy nhiên, khi 0,89 < t < 1: cau trúc cubic.
e 1<t:tacé cau trúc hexagonal: BaNiOs; tetragonal: BaTiOs. Cấu trúc tinh thé ứng với giá trị t: (a) GdFeOs với t = 0,81; (b) BaNiOs với t = 1,13; SrTiOs với t= 1 [49]. Trong đẻ tài này, công thức tính t được cụ thé hóa như sau: [4-x)rHo + X?pa ]* To t= : v2 X(Tre +ro) (1.2) Ta tính được hệ số t như ở Bang 1. Bán kính các ion và hệ số dung han t của vật liệu Ho¡.1, ta thay giá trị t năm trong khoảng từ 0,71 đến 0,90.
Do đó, theo dự kiến thì các perovskite tổng hợp trong dé tai này sẽ có cau trúc orthorhombic. Một số phương pháp tổng hợp vật liệu nano perovskite ABOs Có nhiều phương pháp tông hợp vật liệu nano perovkite thông qua các quá trình vật lí hay hóa học. Cụ thé như sau: * Thứ nhất, phương pháp top — down: vật liệu nano được chế tao từ vật liệu khối ban đầu sau đó phân chia nhỏ ra thành các hạt có kích thước nano. Thường được sử dung la phương pháp ăn mòn laser (laser ablation).
Phương pháp ăn mòn laser là một quá trình sử dụng chùm tia laser chiếu lên vật liệu khối đặt trong một môi trường chat lỏng hoặc chất khí. Đôi với môi trường chất long có hoặc không chứa chất hoạt động bè mặt, các hạt nano được tạo thành với kích thước phân bố khoảng vai nm đến vài chục nm. Ngoài ra, có thé dùng kĩ thuật nghiên hoặc biến dang dé biến các vật liệu đến kích thước nano. Phương pháp top — down có ưu điểm là đơn giản, chế tạo được số lượng lớn sản phẩm khi cần.
Tuy nhiên, nhược điểm là các hạt bị kết tụ lại, khó thu được các hạt nano với kích thước nhỏ, kích thước hạt không đồng nhất, độ tinh khiết không cao và tốn nhiều năng lượng. Do vay, phương pháp này ít được dùng rs LỆ a :.ˆ đề chê tạo vật liệu nano. 1] * Thứ hai, phương pháp bottom — up: vật liệu nano được chế tạo tir các hạt có kích thước nhỏ hơn như nguyên tử, phân tử hoặc ion kết hợp lại với nhau thành hạt nhỏ, sau đó dính lại thành hạt có kích thước lớn hơn. Phương pháp nay dé kiểm soát hơn so với phương pháp top — down bởi dé đảng thay đối các thông số hay hệ phản ứng của quá trình tong hợp.
khi đó kích thước, hình dang và cau tạo của hat nano có thê được kiểm soát. Hiện nay, phương pháp này được sử dụng rộng rãi vì chất lượng của sản phẩm cuỗi cùng là các hạt được phân tán trong chất hoạt hóa bề mặt để hạn chế sự kết tụ với nhau. Tuy nhiên, muốn điều chế một số lượng lớn thì khá khó khăn va tốn kém. Ảnh minh họa về phương pháp top — down va bottom — up [2].
Từ hai phương pháp này, người ta tiến hành sử dụng nhiều công nghệ và kĩ thuật khác nhau dé chế tạo vật liệu nano. Các phương pháp hóa học ding dé tong hợp vật liệu nano perovskite phô biến là phương pháp tông hợp thông qua phản ứng pha rắn (phương pháp gồm); phương pháp hóa ướt như sol — gel, đồng kết tủa, thủy nhiệt,. Sau đây là nguyên tắc hoặc các giai đoạn tông hợp của một vai phương pháp thường gặp. Phương pháp tổng hợp thông qua phản ứng pha rắn Bản chất của phương pháp nảy là thực hiện phản ứng giữa các pha ran ở nhiệt độ cao, sản phẩm thu được thường ở dang bột và có cấp hạt cỡ milimet.
Từ sản phẩm đó mới tiễn hành tạo hình và thực hiện quá trình kết khôi thành vật liệu cụ thẻ. Các giai đoạn chính xảy ra trong phản ứng pha rắn: * Giai đoạn 1: Tính toán thành phan của nguyên liệu ban đầu (các oxide, hydroxide hoặc các muối có thé phân hủy ở nhiệt độ cao tạo oxide như carbonate, nitrate) sao cho dat tỉ lệ hợp thức của sản phẩm mong muén. * Giai đoạn 2: Nghiên mịn nguyên liệu dé tăng diện tích tiếp xúc giữa các chất phản ứng và khuếch tán đồng đều các chất trong hỗn hợp. Nếu lượng phối liệu ít, có thé nghiền trong côi nhỏ.
Trong lúc nghiền, có thé cho một ít dung môi đề dễ nghiên.