Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano mangan oxit sát oxit trên graphen oxit dạng khử ứng dụng xử lí một số chất màu hữu cơ và hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường nước

Luận án tiến sĩ nghiên cứu vật liệu nano mangan oxit trên graphen oxit khử, ứng dụng xử lý chất màu hữu cơ và hóa chất trong nước.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

145
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật

1.1.1. Một số khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật

1.1.2. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật

1.1.3. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam

1.1.4. Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật phốt pho hữu cơ

1.1.5. Giới thiệu chung về một số chất ô nhiễm nghiên cứu

1.1.6. Tính chất hóa lý của một số chất màu hữu cơ

1.1.7. Tính chất hóa lý của parathion, fenitrothion

1.1.8. Các phương pháp xử lí chất màu và hóa chất BVTV phốt pho hữu cơ trong nước thải nông nghiệp

1.1.8.1. Phương pháp hấp phụ
1.1.8.2. Phương pháp sinh học
1.1.8.3. Phân hủy bằng các tác nhân oxi hóa
1.1.8.4. Phân hủy bằng các quá trình oxi hóa nâng cao
1.1.8.5. Quá trình quang xúc tác phân hủy các chất màu hữu cơ và hóa chất BVTV phốt pho hữu cơ
1.1.8.5.1. Khái niệm chung về quá trình quang xúc tác

1.1.9. Giới thiệu vật liệu Fe2O3 – Mn2O3 trong xử lí chất ô nhiễm

1.1.10. Tình hình nghiên cứu xử lí các chất hữu cơ mang màu và hóa chất BVTV ở Việt Nam

1.1.11. Các phương pháp chế tạo vật liệu Fe2O3 – Mn2O3

1.1.11.1. Phương pháp thủy nhiệt
1.1.11.2. Phương pháp đồng kết tủa
1.1.11.3. Phương pháp sol gel
1.1.11.4. Phương pháp tổng hợp đốt cháy

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp tổng hợp vật liệu

2.1.1. Tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3

2.1.2. Tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3 trên chất mang rGO

2.2. Các phương pháp xác định đặc trưng vật liệu

2.2.1. Phương pháp phân tích nhiệt (DTA, TGA)

2.2.2. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.2.3. Phổ tán sắc năng lượng (EDS)

2.2.4. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) và hiển vi điện tử truyền qua (TEM)

2.2.5. Phương pháp đo diện tích bề mặt (BET)

2.2.6. Phương pháp xác định điểm điện tích không của vật liệu

2.3. Nghiên cứu khả năng phân hủy các chất ô nhiễm của vật liệu

2.3.1. Khảo sát khả năng phân hủy MO, MB của vật liệu hỗn hợp quang xúc tác cấu trúc nano Fe2O3 – Mn2O3

2.3.2. Nghiên cứu khả năng phân hủy hóa chất BVTV của vật liệu hỗn hợp quang xúc tác cấu trúc nano (Fe2O3 – Mn2O3)/rGO

2.4. Các phương pháp phân tích các chất ô nhiễm nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp trắc quang xác định hàm lượng MO, MB trong mẫu nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp sắc kí lỏng xác định các chất trung gian hình thành trong quá trình phân hủy MO, MB

2.4.3. Phương pháp GC/MS xác định nồng độ parathion, fenitrothion trong mẫu nghiên cứu

2.5. Kết quả và thảo luận

2.5.1. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3

2.5.1.1. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3 với tác nhân tạo gel là axit tactric
2.5.1.2. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3 với tác nhân tạo gel là PVA và axit tactric
2.5.1.3. So sánh, lựa chọn tác nhân tạo gel để tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3

2.5.2. Ứng dụng quá trình quang xúc tác phân hủy một số chất ô nhiễm với hỗn hợp nano oxit Fe2O3 – Mn2O3 lựa chọn tổng hợp với tác nhân tạo gel AT và PVA

2.5.3. Ứng dụng quá trình quang xúc tác phân hủy MO của các đơn nano oxit Fe2O3, Mn2O3 và nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3

2.5.4. Ứng dụng quá trình quang xúc tác phân hủy MB của các đơn nano oxit Fe2O3, Mn2O3 và nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3

2.5.5. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – Mn2O3/rGO

2.5.6. Khảo sát quá trình phân hủy parathion và fenitrothion trong môi trường nước của vật liệu Fe2O3 – Mn2O3/rGO

2.5.6.1. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy parathion
2.5.6.2. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy fenitrothion
2.5.6.3. So sánh khả năng quang xúc tác phân hủy của vật liệu Fe2O3 – Mn2O3 và Fe2O3 – Mn2O3/rGO
2.5.6.4. Khả năng tái sử dụng của vật liệu Fe2O3 – Mn2O3/rGO trong quá trình quang xúc tác phân hủy parathion, fenitrothion

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu nano mangan oxit và graphen oxit

Nghiên cứu về vật liệu nano đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong khoa học vật liệu, đặc biệt là trong ứng dụng xử lý ô nhiễm môi trường. Mangan oxit là một trong những vật liệu nano được nghiên cứu nhiều nhất do tính chất hóa học và khả năng xúc tác của nó. Graphen oxit (GO) và graphen oxit dạng khử (rGO) được sử dụng làm chất mang cho các hạt nano, giúp tăng cường hiệu quả xử lý chất ô nhiễm. Việc kết hợp giữa mangan oxitgraphen oxit tạo ra một hệ xúc tác mạnh mẽ, có khả năng phân hủy các chất màu hữu cơ và hóa chất bảo vệ thực vật trong môi trường nước. Theo nghiên cứu, tính năng của graphen oxit trong việc hấp thụ ánh sáng và khả năng dẫn điện đã làm tăng hiệu quả của quá trình quang xúc tác. Điều này cho thấy sự kết hợp giữa mangan oxitgraphen oxit có thể mang lại những giải pháp mới cho việc xử lý ô nhiễm môi trường.

II. Tính chất và ứng dụng của mangan oxit trong xử lý chất màu

Mangan oxit có nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng lại có những tính chất hóa lý riêng biệt. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính năng của mangan oxit trong việc phân hủy các chất màu hữu cơ như Methyl Orange (MO) và Methylene Blue (MB) rất hiệu quả. Quá trình quang xúc tác sử dụng mangan oxit cho phép phân hủy các chất ô nhiễm này thành các sản phẩm vô hại. Việc sử dụng vật liệu nano giúp tăng diện tích bề mặt tiếp xúc, từ đó nâng cao khả năng hấp phụ và phân hủy. Nghiên cứu cho thấy rằng mangan oxit có thể hoạt động hiệu quả trong điều kiện ánh sáng tự nhiên, làm cho nó trở thành một lựa chọn lý tưởng cho các ứng dụng xử lý nước thải nông nghiệp. Sự kết hợp giữa mangan oxitgraphen oxit không chỉ cải thiện hiệu suất phân hủy mà còn giảm thiểu sự tái kết hợp giữa điện tử và lỗ trống, từ đó nâng cao hiệu quả xúc tác.

III. Ứng dụng của graphen oxit trong công nghệ nano

Graphen oxit (GO) và graphen oxit dạng khử (rGO) đã được chứng minh là có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt và dẫn điện cao. Ứng dụng graphen trong công nghệ nano không chỉ giúp tăng cường hiệu suất của các vật liệu xúc tác mà còn mở ra nhiều cơ hội mới trong việc xử lý ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng graphen oxit làm chất mang cho các hạt nano như mangan oxit giúp cải thiện khả năng phân hủy các chất ô nhiễm trong nước. Nghiên cứu cho thấy rằng tính năng của graphen oxit trong việc tạo ra các liên kết với các ion kim loại chuyển tiếp đã làm tăng cường khả năng hấp phụ và phân hủy các chất màu hữu cơ. Điều này cho thấy rằng graphen oxit không chỉ là một chất mang hiệu quả mà còn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các công nghệ xử lý nước thải tiên tiến.

IV. Tác động của hóa chất bảo vệ thực vật đến môi trường

Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) đã được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp để kiểm soát sâu bệnh. Tuy nhiên, việc sử dụng không đúng cách có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các hóa chất như fenitrothion và parathion thuộc nhóm phốt pho hữu cơ có độc tính cao và khó phân hủy trong môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng mangan oxit kết hợp với graphen oxit có khả năng phân hủy các hóa chất này, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Việc áp dụng công nghệ nano trong xử lý hóa chất BVTV không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người. Sự phát triển của các phương pháp xử lý hiệu quả như quang xúc tác với vật liệu nano sẽ là một giải pháp bền vững cho vấn đề ô nhiễm do hóa chất BVTV.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu

Nghiên cứu về vật liệu nano mangan oxit trên graphen oxit đã mở ra nhiều triển vọng trong việc xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong việc phân hủy các chất màu hữu cơ và hóa chất BVTV. Các kết quả cho thấy rằng sự kết hợp giữa mangan oxitgraphen oxit không chỉ nâng cao hiệu suất phân hủy mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp và ứng dụng các vật liệu nano mới, nhằm phát triển các giải pháp hiệu quả hơn cho việc xử lý ô nhiễm trong môi trường nước. Việc áp dụng công nghệ nano trong xử lý ô nhiễm sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sự ô nhiễm môi trường hiện nay là một thách thức lớn đối với toàn cầu trong đó có Việt Nam. Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày càng tăng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp này đã gây các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh do thải ra một lượng lớn các chất ô nhiễm đặc biệt là trong nước thải. Các chất ô nhiễm khó phân hủy như các chất màu, phenol, thuốc kháng sinh,.được phát hiện ngày càng nhiều.

Việt Nam là nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời. Để đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho số đầu người luôn luôn tăng với diện tích canh tác ngày càng bị thu hẹp, các biện pháp như thâm canh tăng vụ, cải tiến giống, việc sử dụng hóa chất BVTV được thực hiện để tăng năng suất lao động. Có nhiều hóa chất BVTV thuộc nhóm cơ clo, phốt pho hữu cơ, cacbamat, pyrethroid đã và đang được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp. Tuy nhiên, do độc tính cao, cùng với sự tích lũy sinh học, khó phân hủy trong môi trường, hầu hết các hóa chất thuộc nhóm cơ clo đã bị cấm sử dụng.

Các hóa chất BVTV phốt pho hữu cơ với ưu điểm là phổ phòng trừ rộng, tiêu diệt nhanh sâu bệnh hiện nay được ứng dụng rộng rãi như các hóa chất fenitrothion, parathion – methyl, quinaphos, profenofos. Tuy vậy, việc sử dụng tràn lan thuốc BVTV trong quá trình canh tác đã để lại dư lượng hóa chất này trong môi trường rất lớn, đặc biệt là trong môi trường nước. Nước thải nông nghiệp trở thành một vấn đề thách thức lớn làm ô nhiễm môi trường, phá hủy hệ sinh thái tự nhiên. Như vậy, không chỉ ở nước thải công nghiệp, các chất hữu cơ bền, khó phân hủy trong nước thải nông nghiệp cũng cần được quan tâm xử lí.

Có nhiều phương pháp khác nhau được nghiên cứu áp dụng như phương pháp hấp phụ, phương pháp sinh học, phương pháp oxi hóa nâng cao,. Mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm riêng. Phương pháp hấp phụ với nhược điểm tạo ra chất thải rắn thứ cấp là các chất hấp phụ bão hòa có nồng độ chất ô nhiễm cao, phương pháp sinh học có thời gian phân hủy dài, hiệu quả phân hủy kém,. Vì vậy, nhiều nghiên cứu tập trung khoáng hóa hoàn toàn các chất ô nhiễm bền này thành các chất không độc.

Phương pháp oxi hóa nâng cao dựa vào hoạt động gốc hydroxyl ●OH (có thế oxy hóa cao nhất 2,8 eV) được quan tâm nghiên cứu phân hủy trong thời gian gần đây. Sự hình thành nên các gốc ●OH trong thời gian phản ứng xảy ra qua nhiều quá trình khác luan an 2 nhau trong đó có quá trình quang xúc tác dựa trên cơ sở các hạt nano oxit hỗn hợp Fe2O3 – MnOx [1,2]. Quá trình này được diễn ra trong điều kiện tự nhiên, cho hiệu quả phân hủy cao với các chất khó phân hủy, sản phẩm cuối cùng là các chất vô cơ không độc với môi trường. Hiệu quả quá trình quang xúc tác tăng lên khi phân tán các hạt nano oxit hỗn hợp này lên chất mang rGO [3,4].

Tương tự như graphen oxit (GO), graphen oxit dạng khử (rGO) có cấu trúc đa lớp, trong phân tử có nhiều nhóm chức nên dễ dàng hình thành các liên kết với các ion kim loại chuyển tiếp [5,6]. Hơn nữa, với diện tích bề mặt riêng lớn, khả năng hấp thụ ánh sáng vùng khả kiến, đặc biệt là khả năng nhận điện tử từ vùng dẫn của chất bán dẫn đã hạn chế được sự tái kết hợp giữa điện tử và lỗ trống, làm tăng hiệu quả xúc tác. Với những ưu điểm trên, rGO là chất mang thích hợp để phân tán các hạt nano oxit kim loại. Đối tượng xử lí được lựa chọn trong khuôn khổ luận án là các chất mang màu hữu cơ khó phân hủy MO, MB và hóa chất BVTV phốt pho hữu cơ mà fenitrothion và parathion là hai chất đại diện.

Quá trình quang xúc tác được ứng dụng để xử lý các chất ô nhiễm này. Luận án tập trung nghiên cứu tổng hợp các hạt nano oxit kim loại hỗn hợp của sắt và mangan, phân tán lên chất mang rGO để tạo nên hệ xúc tác có khả năng phân hủy các hóa chất bền trong môi trường. Từ những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano mangan oxit, sắt oxit trên graphen oxit dạng khử để xử lý một số chất màu hữu cơ và hóa chất bảo vệ thực vật trong môi trường nước” được lựa chọn để nghiên cứu xử lí các chất ô nhiễm này ở Việt Nam. luan an 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.

Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật 1. Một số khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật Theo điều 3 Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật (2013): Thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc. Hóa chất bảo vệ thực vật là chất hoặc thành phần hữu hiệu có hóa tính sinh học của thuốc bảo vệ thực vật. Với các ưu điểm của thuốc BVTV như dễ sử dụng, tiêu diệt nhanh côn trùng, xử lí được dịch hại khi chúng gia tăng trên một diện tích lớn, tính kinh tế khi sử dụng có trách nhiệm, thuốc BVTV đã được sử dụng một cách rộng rãi trong nông nghiệp.

Tuy nhiên nếu lạm dụng thuốc BVTV như sử dụng quá liều lượng cho phép hoặc thiếu hiểu biết về kỹ thuật, không tuân thủ thời gian cách ly sẽ gây nên các tác động tiêu cực đến cả môi trường đất, nước và không khí. Vì vậy, việc quan tâm đến kỹ thuật bốn đúng trong quá trình sử dụng thuốc BVTV là hết sức cần thiết: đúng thuốc; đúng nồng độ, liều lượng; đúng thời điểm; đúng phương pháp. Hiện nay, tính bền vững trong nông nghiệp ngày càng được chú trọng. Tính bền vững ngụ ý rằng nông nghiệp không chỉ đảm bảo cung cấp lương thực bền vững mà còn quan tâm ảnh hưởng đến môi trường, kinh tế xã hội và sức khoẻ con người.

Trong nhiều năm qua, các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật là những tác nhân quan trọng không thể thiếu cho quá trình sản xuất. Vai trò to lớn của thuốc BVTV trong kiểm soát cỏ dại (thuốc diệt cỏ), côn trùng (thuốc trừ sâu) và bệnh của cây trồng đã làm cho quy mô ngành công nghiệp sản xuất thuốc bảo vệ thực vật ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi thuốc BVTV cho mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp đã dẫn đến sự có mặt dư lượng của chúng trong môi trường đất, nước và không khí. Vì vậy, để đạt được mục tiêu nông nghiệp bền vững cần có nhiều sự quan tâm của cộng đồng trong quản lý, sản xuất, sử dụng thuốc BVTV cũng như các nghiên cứu xử lý dư lượng thuốc BVTV ngày càng tăng trong môi trường.

Phân loại thuốc bảo vệ thực vật Thuốc bảo vệ thực vật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau như theo công dụng (thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc diệt nấm, thuốc diệt chuột, thuốc kích thích), theo nhóm độc (độc cấp tính, độc mãn tính), theo thời gian phân hủy (nhóm hầu như không phân hủy, nhóm khó phân hủy, nhóm phân hủy trung bình, nhóm dễ phân hủy), và theo các gốc hóa học, theo đó, chúng được phân thành bốn nhóm chính (1) nhóm cơ clo; (2) nhóm phốt pho hữu cơ; (3) nhóm cacbamat và (4) nhóm pyrethroid. Nhóm cơ clo Trong phân tử của chất này có chứa nguyên tử clo và các vòng benzen hay dị vòng. Tuy nhiên do có độ bền lớn nên thời gian phân hủy của các hợp chất này khá dài gây ô nhiễm môi trường với độc tính cao [7]. Công thức một số loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm này như: DDT Lindane Diendrin 1.

Nhóm phốt pho hữu cơ Hóa chất BVTV loại này được sử dụng rộng rãi trong nền nông nghiệp nước ta. Chúng là este của axit phosphoric và dẫn xuất của axit này [7]. Ví dụ về một số loại thuốc trừ sâu cơ phốt pho phổ biến Fenitrothion Diazinon Parathion 1. Nhóm cacbamat Hóa chất BVTV nhóm cacbamat là các este của axit N-metyl (đôi khi N,N- đimetyl) cacbamic, có hiệu lực diệt sâu nhanh.

So với hai loại thuốc trừ sâu ở trên luan an 5 tuy phổ tác dụng của nhóm cacbamat hẹp hơn, nhưng ít độc hơn và dễ phân hủy trong môi trường [8]. Một số este cacbamat được dùng phổ biến như: Cacbofuran Methomyl Carbaryl 1. Nhóm pyrethroid Hóa chất pyrethroid là dẫn xuất của este cacboxylat, ít tan trong nước, phổ tác dụng rộng, tuy vậy lại dễ phân hủy quang hóa. Các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm này được sử dụng với liều rất thấp so với nhóm cơ clo, phốt pho hữu cơ hay cacbamat và đặc biệt thuốc này lại ít độc đối với môi trường và động vật máu nóng [8].

Một số loại pyrethroid thuộc nhóm này: Cybermethrin Deltamethrin 1. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam Ở Việt Nam, số lượng và chủng loại hóa chất BVTV trong nông nghiệp rất đa dạng và phong phú với 3.865 tên thương mại khác nhau và 1.614 hóa chất được sử dụng. Trước năm 1990, lượng thuốc BVTV nhập khẩu hàng năm dao động trong khoảng từ 13.000 tấn, đến năm 2012 số lượng nhập khẩu đã tăng lên 105. Các loại hóa chất BVTV được sử dụng ở nước ta hầu hết đều nhập từ nước ngoài, trong đó chủ yếu là từ thị trường Trung Quốc, ngoài ra còn có Thái Lan, Singapo, Ấn Độ.

luan an 6 Bảng 1. Khối lượng thuốc BVTV nhập khẩu từ năm 2010 – 2014 [7] Năm Khối lượng Giá trị Thuốc trừ Thuốc trừ Thuốc trừ Thuốc (tấn thành (triệu sâu (%) bệnh (%) cỏ (%) khác (%) phẩm) USD) 2010 72.582 773,801 28,60 36,35 26,26 8,8 Tỉ lệ sử dụng các nhóm thuốc đã thay đổi qua nhiều năm. Hiện nay, nhóm cơ clo đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng ở nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam (DDT, aldrin, dicofor, endosulfan). Tỉ lệ sử dụng của các hóa chất dễ phân hủy, ít gây ô nhiễm môi trường như pyrethroid, cacbamat gia tăng.

Các hóa chất phốt pho hữu cơ với phổ tác dụng rộng cùng thói quen của nông dân (được sử dụng từ những năm 1960, 1970) có tỉ lệ sử dụng khá phổ biến ở nhiều vùng nông nghiệp. Nhiều hóa chất thuộc nhóm phốt pho hữu cơ này ngày càng được phát hiện những ảnh hưởng lớn đến môi trường, con người và động thực vật [9,10].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano mangan oxit trên graphen oxit để xử lý chất màu hữu cơ và hóa chất bảo vệ thực vật trong nước" của tác giả Nguyễn Vũ Ngọc Mai, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Quang Trung và TS. Đào Ngọc Nhiệm, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển và ứng dụng vật liệu nano mangan oxit trên nền graphen oxit, nhằm xử lý hiệu quả các chất màu hữu cơ và hóa chất bảo vệ thực vật trong nước. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về công nghệ nano mà còn mở ra hướng đi mới trong việc xử lý ô nhiễm môi trường nước, mang lại lợi ích cho cả ngành công nghiệp và sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng của vật liệu nano trong xử lý ô nhiễm, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ về ứng dụng vật liệu nano oxit sắt từ trong xử lý crom vi trong nước thải", nơi nghiên cứu về việc sử dụng vật liệu nano trong xử lý nước thải. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong lĩnh vực xúc tác. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các loại vật liệu carbon và khả năng ứng dụng của chúng trong xử lý ô nhiễm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các nghiên cứu và ứng dụng của vật liệu nano trong môi trường.